Mr Ra^u's Blog

Film as dream, film as music. No form of art goes beyond ordinary consciousness as film does, straight to our emotions, deep into the twilight room of the soul.

- Ingmar Bergman

Wednesday, January 06, 2010

[Review]: Summer Hours - L'heure d'été (Olivier Assayas, 2008)


Summer Hours lúc ra mắt mùa Hè ở Pháp đã thất bại. Một năm hơn, nó đến Mĩ và nhiều nước khác, nhận được lời tán dương nức nở. Indie Wire uy tín đã chọn nó là Phim hay nhất 2009 cùng nhiều khu vực phê bình khác (BSFA, LAFC, NYFC, SFCA) đặt tên Summer Hours là Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất.

Nhìn vào Poster, đọc lên cái tựa đề, cứ ngỡ rằng ta sẽ xem một tác phẩm nồng ấm tình thân giữa cái nóng nhẹ nhàng của vùng ôn đới, giữa mùa Hè ngập đầy màu xanh của cây lá. Không phải vậy, Summer Hours có những suy tư, vui buồn trăn trở. Nó không buồn thê lương nhưng buồn man mác. Nó cũng có những nụ cười trẻ thơ, thanh niên, người già...Trên hết, nó là bức tranh sinh động can đảm mà Olivier Assayas - một nhà làm phim Châu âu bất ngờ đắm mình trong cảm giác giao hòa Đông - Tây thật thanh tao, tinh tế. Bởi những âu lo là mẫu số chung của hầu như mọi gia đình, hay khoảng cách giữa các thế hệ và nỗi đơn côi của những người ở tuổi xế chiều.

Bộ phim mở ra một kì nghỉ Hè ý nghĩa của Hélène Berthier - một nữ họa sỹ đã 75 tuổi chào đón sinh nhật với các con cháu của mình từ phương xa về tụ họp. Bữa tiệc diễn ra giữa khu vườn đầy lá hoa, bên ngoài sân cạnh ngôi nhà nhỏ, cũ kĩ và biết bao nhiêu những kỉ vật, tranh ảnh, đồ dùng...mà Hélène hằng gìn giữ, trân trọng suốt cả đời Bà. Nào là buổi ăn nhẹ, tiết mục quà tặng với những lời trách yêu, những chuyện phím của các con...tiếng cười nô đùa của các cháu bên ngoài sân vườn đầy cỏ xanh...

Những phiền lụy ban đầu xảy ra khi Hélène gặp riêng con trai cả Frédéric - người sống là làm việc ở Pháp trong khi hai người con còn lại là Adrienne - cô con gái thích phiêu lưu bên Mĩ và Jérémie đang đau đầu với kế hoạch phát triển công việc ở Châu á. Sự nhiệp ổn định, tính cách khiêm nhường, sống tình nghĩa...Hơn ai hết, người mẹ luôn hiểu trong các con ai sẽ phù hợp với mình và Hélène chọn Frédéric để gửi gắm...gia tài của Bà. Bà lo rằng một ngày thật gần nào đó Bà sẽ ra đi đột ngột. Thật buồn khi Hélène không tìm thấy sự đồng tình từ các con khi chúng không cùng suy nghĩ với Bà. Các con Bà mà còn không thể đồng cảm với mẹ thì thử hỏi Bà vẫn muốn gìn giữ căn nhà và các kỉ vật để có thể mỗi mùa Hè các con cháu Bà có nơi thật bình yên, để nghỉ ngơi, vui chơi...

Frédéric tỏ vẻ khó chịu chính bởi vì như bao người con thương mẹ khác, anh không muốn Bà lo nghĩ những chuyện chẳng may, và hơn nữa, anh hiểu tính cách hai người em của mình, sống theo thời đại và vội vã quên nhanh quá những giá trị thực của đời sống tinh thần. Hélène đặt trách nhiệm nặng nề lên anh khi giao cho anh quyền quản lý và sử dụng ngôi nhà cùng tất cả những thứ bà yêu quí: những cuốn phác thảo họa phẩm của Paul Berthier, những bức tranh, chiếc bàn cổ, những chiếc bình hoa độc nhất những đứa trẻ vô tội, ngây ngô, ham chơi đùa làm sao có thể hiểu được đáy lòng dậy sóng của Bà. Ôi, tuổi già bạc bẽo ! Hình ảnh Hélène khắc khoải bước trên từng bậc thang soái mòn sau buổi chia tay con cháu, từng bước chân Bà nặng trịch, loạng choạng. Rồi khi ánh nắng vàng héo hắt của buổi chiều lịm dần, Hélène như cũng lịm dần đi với nỗi buồn của riêng Bà, một sự tắt lặng. Bà ngồi lặng lẽ trên ghế. Eloise - người giúp việc lâu năm chắc cũng thấu hiểu và xót xa cho Hélène. Có ai ngờ, như buổi chiều tắt sớm hôm ấy là lần cuối cùng các con Bà được trông thấy Bà mỗi ngày Hè.

Hay tin mẹ đã mất, Frédéric sau rất lâu kìm chế đã phải bật khóc trong ôtô vì không đành lòng và cả không hài lòng bởi sự ra đi quá bất ngờ của mẹ. Giờ đây, anh phải đối mặt với Mẹ, với chính anh và cả hai người em độc lập, tự do của mình trong công cuộc bảo vệ ngôi nhà. Frédéric không chỉ khóc một lần mà là nhiều lần, những lúc anh không thể tự kìm lòng trước sự bất lực của bản thân, và ghét sự bất lực đó của mình đồng thời cũng trách vấn Mẹ vì sao lại giao cho anh một công việc quá khó như thế. Liệu nó có thật sự quá khó ?

Cuối cùng rồi những kỉ vật, hiện vật quí giá ấy cũng được bán đi và trưng bày trong Viện Bảo Tàng. Adrienne chuẩn bị cuộc hôn nhân ở tuổi quá lứa, Jérémie lại rất cần tiền cho sự nghiệp phát triển của chính mình. Frédéric không thể làm khác và anh cũng không thể giận hai người em của mình. Sao mà giận họ khi ngay chính Frédéric còn chẳng thể giúp gì cho họ, và quả thật thì gia tài của Cha Mẹ cốt chỉ để cho con cái sung sướng, hạnh phúc, giúp đỡ những khó khăn. Nhưng ít ai ngờ gia tài lớn nhất ngoài tình cảm Mẹ-con là căn nhà trong một vùng quê yên ả. Đó là mới chính là thứ hiện hữu giữa ban ngày, chứng kiến bao lần mùa Hè trải qua của tình yêu thương, khăng khít và cả những nỗi buồn, giận hờn trách móc.

Frédéric không cố sống cố chết để giữ những điều tuyệt đẹp của riêng Mẹ âu cũng có cái hay, bởi anh cũng đã góp phần đưa những điều đẹp đẽ ấy đến với rất nhiều người yêu nghệ thuật khác như Mẹ anh, thay vì cố giữ nó trong căn nhà và mãi mãi sống với nó ? Không, Viện Bảo Tàng tuy lạnh lẽo nghiêm trang hơn ngôi nhà của Mẹ, nhưng nó có lẽ sẽ an toàn, hào phóng nhất là nơi gìn giữ dùm Mẹ những kỉ vật vô giá. Dù những kỉ vật ấy vốn tồn tại của những cá nhân trong gia đình Hélène - bằng chứng sinh động cho người đã khuất.

Bộ phim kết thúc với một mùa Hè nhiều năm sau đó, khi các con của Frédéric đã lớn, cùng trở về ngôi nhà của Mẹ. Có lẽ Bà sẽ không đơn côi, buồn bã nữa vì căn nhà của Bà chẳng bao giờ chìm vào trong Viện Bảo Tàng kia. Con cháu Bà mới chính là những gì sống động, thực tại nhất của Bà. Bộ phim không hề khai thác Kì nghỉ Lễ Noel, Năm mới...mà lại chọn Kì nghĩ Hè thật ấm nóng xanh tươi. Mùa Hè là mùa phát triển của cây, hoa, quả sau một mùa Xuân bắt đầu đơm chồi. Mùa Hè với sắc xanh của sự sống, niềm hi vọng về một sự lâu bền nào đó mà ở đây là sức sống và tình cảm máu mủ. Mùa Hè với sắc cam, vàng của ánh nắng, của bầu trời rực rỡ như hòa quyện với lòng người chia sẻ.

Juliette Binoche, Charles Berling, Jérémie Renier đều chứng tỏ được diễn xuất của mình, dù không thể vượt qua những nét buồn của Edith Scob trong vai người Mẹ. Bộ phim được kể với giọng điệu nhẹ tựa lông hồng mà đôi khi ta có cảm giác hơi nhàn nhạt nếu ta bị "trật" một nhịp nào đó của phim. Olivier Assayas vốn là kẻ tôn sùng Ozu và ngưỡng mộ Hầu Hiều Hiền, anh đã khôn khéo đưa vào phim những khoảng khắc ngắn gọn khi con người giao hòa với thiên nhiên, khoảng lặng lắng đọng trong tâm trạng mỗi nhân vật, những trăn trở rất Á đông - giá trị trong sâu thẳm của sự sống và cái chết. Với hình ảnh những đứa trẻ vui đùa, lớn lên từng ngày, người già chết đi, anh chị em trong một gia đình, ngôi làng nhỏ...dễ làm liên tưởng đến Time to Live, Time to Die của Hầu Hiếu Hiền năm xưa. Summer Hours với tất cả sự nhẹ nhàng đến nhợt nhạt của những khuôn hình không cầu kỳ trau chuốt, những cuộc đối thoại nhẹ nhõm đến chẳng có gì phải chú tâm...bộ phim vẫn chưa thật sự tạo nên sức bật đặc biệt nào đó, cần thiết để đẩy những tinh tế của bộ phim thành một tác phẩm nặng nề nhưng vẫn thanh thản. Làm được điều đó, Olivier Assayas hẳn phải cần thêm nhiều nhiều sự kiên nhẫn nữa.

Grade: B

Tuesday, January 05, 2010

[Review]: Vengeance (Johnnie To, 2009)


Phim hành động đơn thuần hầu hết chẳng có gì để bàn ngoài kĩ thuật, võ thuật và những hiệu ứng đặc biệt nghe nhìn. May mắn thay đa phần các phim của Đỗ Kỳ Phong ít nhiều vẫn còn đọng lại trong lòng người xem chút gì đó, có thể kể đến. Phát triển từ dòng phim XHĐ của màn bạc HongKong thập niên 80, Đỗ đã thổi vào những tác phẩm của mình một làn gió mới, thông minh và có phong cách. Những thành công gần đây của ông đã giúp ông được nhìn nhận như một tác giả làm phim hành động/ bạo lực thật sự. Vengeance - tham gia tranh giải ở Cannes 2009 không táo bạo như Sparrow của chính ông năm 2008 song vẫn làm hài lòng những người hâm mộ trung thành.

Có lẽ những nhà làm phim tác giả, gần như đã bắt đầu muốn "làm mới" mình, bằng nhiều cách: hợp tác Quốc tế, phim quay hoàn toàn ở bên ngoài đất nước, ngôn ngữ...hoặc liều mạng hơn là thay đổi một vài yếu tố thuộc phạm vi phong cách của chính họ, và thử sức ở những thể loại phim trái ngược hoàn toàn với họ. Kiyoshi Kurosawa đã làm Tokyo Sonata nức lòng người xem, Hầu Hiếu Hiền đã làm Flight of the Red Ballon trữ tình theo phong vị Pháp, Lý An đã làm một "sự biến chuyển" khi kể chuyện Cao bồi Mỹ rất duyên trong Brokeback Mountain. Nay, ta bắt gặp Đỗ Kỳ Phong với một phim nhiều ngôn ngữ với diễn viên chính người Pháp Johnny Hallyday - Ngôi sao một thời.

Johnny Hallyday không phải là lựa chọn đầu tiên, Đỗ muốn Alain Delon - người từng đóng các phim trinh thám/ hình sự nhưng Delon sau khi tiếp xúc tỏ ra không hứng thú với dự án. Bộ phim diễn tiến với Hallyday trong vai François Costello - một tay gang-xtơ có hạng chuyển nghề sang làm đầu bếp và rất giàu có tại Paris, sang HK báo thù cho con gái. Khi phim công chiếu, người ta ngợi khen đôi mắt "rắn", gương mặt vết tích và một phong thái lạnh lùng của Hallyday.

Ngoài việc phim sử dụng ngôn ngữ Pháp, Phổ thông, Anh...thì lần đầu tiên Đỗ quay một cảnh nóng khá lộ liễu. Tuy vậy, cảnh này là điểm mấu chốt của phim. Ngoài ra, phong cách của Đỗ có vẻ hơi rời rạc, không còn súc tích như các phim trước đây bởi ông đưa vào những chi tiết nhìn thì có vẻ thú vị, nhưng không thật sự đặc sắc. Trong phim, vẫn có con thuyền - tựa trưng cho sự di chuyển đến một mục đích nào đó. Những cảnh mà các nhân vật hành động trong phạm vi hẹp: hành lang, trong một khung hình, thường là cận cảnh khuôn mặt lạnh toát của kẻ sát nhân...Mở đầu các phim hành động, hình sự/ tội ác...luôn luôn là cái chết- sự bí ẩn.

Thompson và hai con nhỏ sau giờ tan học vội chạy vào nhau sau cơn mưa, mẹ chúng đang nấu ăn, gia cảnh đầm ấm. Đùng một cái, có tiếng chuông, Thompson bước ra và nhìn vào lỗ nhỏ trên cửa, bị nhả súng liên tục cho đến chết. Những kẻ sát nhân này tiếp tục giết chết ba mẹ con nhưng tình huống được kể lại sau đó qua thủ pháp cắt cảnh quá khứ/ hiện tại khi Costello quay trở lại căn nhà con gái ông - Irene, tìm đến những vị trí mà nạn nhân bị giết. Tuy nhiên, con gái ông không chết dù tình trạng liệt tứ chi, trong lúc đáp trả bọn sát nhân, con gái ông kịp bắn trúng tai một tên trong số ba tên- đó là dữ liệu để ông truy tìm tung tích những kẻ giết hại gia đình này.

Costello đến thăm Irene, ông cầm tờ báo Pháp, dùng tay con để giúp cô chỉ những từ mà cô muốn nói. Cảnh sát HK vào cuộc nhưng tất nhiên Costello muốn tự mình trả thù cho con. Venge-moi. Ta quay lại cảnh nóng của phim, ba tên sát nhân được lệnh đi theo người tình của ông chủ George Fung- kẻ cầm đầu Hội tam Hoàng. Cô nhân tình quan hệ với người yêu và bị giết, Costello vô tình đi ngang qua và chứng kiến. Tuy nhiên, ba tên sát nhân này đã tha cho ông. Và chính ông đã cố tình không vạch mặt một trong ba tên ở phòng nhận dạng vì mục đích của ông: muốn nhờ ba tên sát nhân đó truy tìm và trả thù cho Irene. Ba tên sát nhân mà ông nhờ cậy không phải ba tên đã giết hại gia đình con gái, do đó tôi đặt tên cho họ là "ba người cộng sự".

Ban đầu họ hợp tác vì tiền bạc, Costello giao cho họ số tiền lớn, một nhà hàng và một căn biệt thự bên Pháp, thậm chí là đồng hồ Rolex ông đeo trên tay. Ông lại bị chứng hay quên- yếu tố then chốt của phim, vì vậy mà ông phải chụp ảnh cả ba người cộng sự mới này, ghi tên họ để ghi nhớ họ: Kwai, Fay Lok, Chu. Trước đó, ông còn lấy hình ảnh con gái-con rể và hai cháu để đề chữ "Báo thù" bởi ông sợ một ngày nào đó ông quên.

Thế thì ta buột miệng tự hỏi: Vậy hãy thử quên đi tất cả xem sao ? Sẽ không còn đổ máu, lòng thù hận, đáp trả...Báo thù luôn luôn là một cái vòng lẩn quẩn khó day dứt. Nếu chấp nhận cố tình quên đi vì căn bệnh của ông, có lẽ sẽ không có những trận đổ máu sau đó...Có lúc, Costello còn hỏi rằng "Báo thù" là gì ? Tại sao phải báo thù ? Đây là câu hỏi lớn, bởi vì con người là con và người chứ không phải thần thánh. Vả lại, chúng đã giết cả hai đứa trẻ vô tội.

Chính những đứa trẻ vô tội, non nớt đã làm chùn lòng ba tên cộng sự: Costello cùng họ tìm đến đúng nơi mà ba tên sát nhân man rợ kia sinh sống. Sau đó họ hội ngộ trong một đêm tại khu công viên mà chúng cùng vợ và con đang nô đùa, vui chơi. Đợi đến khi vợ và con chúng ra về, trận nổ súng ấn tượng đầu tiên của phim diễn ra. Ánh trăng sáng, chói lòa xuống những rừng cây xanh, phát giác ra những kẻ áo đen đang thi nhau đấu súng. Tiếng gió, lá xào xạc...cảnh này đẹp và thơ mộng hơn hẳn cảnh tương tự trong Public Enemies. Vì chứng mau quên, Costello sơ ý bị thương khi ông không ra tay trước đối thủ. Chúng chạy thoát, hai trong những cộng sự của ông cũng bị thương. Lúc này, tên cầm đầu Hội tam Hoàng George Fung - mới cho ta hay một sự thật éo le: ba tên sát nhân và ba người cộng sự của đều là từ một Hội. Tuy nhiên tình cảm quá lớn và nỗi mất mát của Costello đã khiến ba tên cộng sự quyết tâm "phóng lao thì theo lao". Ngay đêm đó, chúng tới nơi trú ngụ của ba tên sát nhân và giết chết toàn bộ.

Ngay lập tức, Geogre Fung cho người đến dằn mặt, trận nổ súng diễn ra ngắn gọn giữa lòng thành phố ngập mưa và những ô dù che những khuôn mặt xa lạ. Một lần nữa C mất trí nhớ và quên ba cộng sự của mình. Ông phải sử dụng những bức hình để nhận ra họ, trước khi bắn chết họ.

Nhắc đến nhưng khuôn mặt, ta có thể nhớ lại một chi tiết khác cũng liên quan. Một trong ba kẻ sát nhân khi phát hiện ra hai đứa trẻ trong tủ quần áo, liền hỏi "Tôi phải làm gì bây giờ? ". Một trong hai tên còn lại nói rằng: "Chúng đã thấy mặt anh. Vậy anh muốn làm gì?" Thế là tên sát nhân khép cửa, ra tay nhanh chóng. Tội ác của chúng thật khó tha vì "diệt cỏ tận gốc". Khó tha hơn nữa vì chúng đã làm chồng làm cha, hiểu được bản thân phải sống vì gia đình, vậy mà vẫn can tâm giết hại hai đứa trẻ vô tội.

Tất nhiên, giang hồ bang hội hay có vụ thanh trừng, dè mặt...Anh em người thân của ba tên cộng sự sau đó đã bị giết dã man, phá nơi làm việc hoang tàn. Trận đấu súng thứ hai diễn ra, cũng là cảnh hoàng tráng duy nhất của phim. Nếu nhìn thoáng qua ta nhầm là phim cổ trang đâm chém. Ai muốn biết cảnh này đẹp, hấp dẫn và bi thương thì nên tìm xem phim để tận mắt chứng kiến.

Costello bấy giờ sinh sống cùng vợ của Kwai và những đứa trẻ lai vô gia cư. Ông hoàn toàn quên hết tất cả. Nhưng, chính cô vợ này đã đau lòng gợi cho ông, cả đứa trẻ gợi cho ông nhớ lại ba người công sự - ba người bạn đã vì ông mà chết thảm trong tin tức TV. Một thời gian sau đó, khi Costello và người phụ nữ này có với nhau một con trai, họ đã đến Paris để quyết định "xử đẹp" George Fung. Hầu như phim nào của Đỗ cũng có cái kết kiểu này. Một cây cổ thụ cội rễ, lá xanh um tùm, khoảng không gian thoáng, màu trắng tường vôi...

Những đứa trẻ dán những logo trên áo của George Fung - kí hiệu để Costello nhận dạng. Trong trận đấu súng bình thường cuối phim. Costello nhờ nhận ra cái logo nấp sau ca-ra-vat của George Fung mà đã hạ súng giết chết hắn ta. Bộ phim kết thúc với hình ảnh cũ lặp lai cảnh ngày vừa mới đến với đại gia đình của Kwai. Tuy nhiên, một lỗ hổng rằng quên những kẻ sát nhân, bạn hữu, còn vợ và con thì không ?

Các diễn viên tham gia hầu hết đều đã từng hợp tác với Đỗ như Nhậm Đạt Hoa, Thiệu Mỹ Kỳ, Huỳnh Thu Sanh...Poster phim trông y hệt Oldboy của Hàn Quốc. Kinh phí phim là 11,5 triệu USD và hình như không có lãi sau khi ra rạp tại Pháp và HK.



Grade: B-

Saturday, January 02, 2010

[Review]: The Hurt Locker (Kathryn Bigelow, 2008)

Tham gia LHP Venice năm 2008 với 10 phút vỗ tay đứng (khi phim kết thúc) và giành giải SIGNIS, Best Film Venezia 65. Thế nhưng, The Hurt Locker - bộ phim chiến tranh Iraq đầu tiên của một đạo diễn nữ người Mỹ chỉ mới vừa trình chiếu chính thức tại Mĩ tháng 6 vừa qua, đạt doanh thu khoảng 1 triệu USD nhưng nhận được rất nhiều lời khen ngợi nồng nhiệt từ khán giả và bình luận phim. Người ta cũng dự đoán, trường đua của The Hurt Locker đến mùa giải Oscar năm nay là rất khả quan. còn TNYT đánh giá đây là phim chiến tranh Iraq hay nhất.

Mở đầu bằng cuộc gỡ bom ở Baghdad của chỉ huy một biệt đội lính Mĩ. Sau 8 phút, quả bom vô tình bị kích nổ bởi chiếc điện thoại di động của một người dân gần đó. Tiếng nổ lớn với tất cả thân xác thành mây khói đã làm đứng tim người xem, báo hiệu cho họ biết một tác phẩm căng thẳng, chuẩn xác và thực tế như một câu chuyện ghi hình theo chân. Kẻ được thay thế dẫn đầu biệt đội Delta này là William James. Bộ phim tiếp tục diễn biến theo 38 ngày còn lại cho đến khi James hoàn thành nhiệm vụ để trở về nhà.

Công việc gỡ mìn dĩ nhiên là nguy hiểm, bởi không chỉ cắt nhầm dây, bị kích thích nổ sóng điện từ như điện thoại hay thậm chí chỉ một sai lệch hoặc một xích mích nhỏ trong một tổng thể liên kết hỗ trợ...sức nổ rất mạnh của nọ dễ dàng giết chết nhiều người xung quanh trong một phạm vi tương đối. Một trong những nguyên nhân khiến cho việc gỡ mìn căng thẳng chính là vì những cặp mắt dòm ngó của dân chúng xung quanh mà trong số đó có kẻ rắp tâm hại ta mà ta không thể biết. Hình ảnh những kẻ đặt bom hay những người Iraq nhìn từ ban công, từ cửa sổ...xuống đám lính Mĩ hồi hộp, căng thẳng, sợ hãi và đầy rủi ro thật mỉa mai.

Những người lính hơn ai hết phải hiểu lẫn nhau, phải phối hợp ăn ý. Muốn có điều đó, họ phải sống với nhau thẳng thắn, phải nhìn nhận bản thân trước đối phương, lắng nghe và chia sẻ tất cả quan điểm của mình trong cuộc sống để mong tìm ra cái hòa hợp chung cho công việc. Cũng vì lẽ đó, The Hurt Locker ngoài những giờ phút tháo gỡ mìn hay đối đầu với lính Iraq nghẹt thở...thì đọng lại những phút giây bên trong đó, là một cái nhìn gần gũi, chân thật về những người lính đặt cái chết ở mức thấp nhất và sẵn sàng từ bỏ tất cả. Lúc bấy giờ, tình đồng đội, chiến hữu là trên hết.

Chuyên viên Owen Eldridge là chàng thanh niên trẻ măng, ít kinh nghiệm nên tâm trạng luôn căng thẳng, lo lắng vì nỗi sợ hãi của cái gọi là chiến tranh. Eldridge chấp nhận theo hai người bạn giàu kinh nghiệm hơn, dẫu chính anh cũng phải đối mặt với một tai nạn suýt chết và chính anh cũng tận mắt chứng kiến cái chết của - người mà anh đã luôn có cảm giác bực tức khi đối diện vì thường hay nói trách móc, khiêu khích bản lĩnh nghề nghiệp của Eldridge, trong một nỗi tuyệt vọng và ngơ ngác đến tội nghiệp.

Viên sĩ quan J. T. Sanborn lại là người chính trực, thẳng thắn và nguyên tắc, có nhiệm vụ bảo vệ những đồng đội đang tác chiến bên vùng nguy hiểm. Bản tính cẩn thận và dè chừng của anh đã khiến mối quan hệ giữa anh là James - người mới, trở nên căng thẳng. Thậm chí, có lúc Sanborn nói với Eldridge ý định giết James. Đoạn phim này rất hồi hộp, mặc dù ta vẫn biết James sẽ "sống" với bộ phim đến hết nhưng ta vẫn lo bởi thực tế Sanborn truyền đạt lời nói và cái nhìn không thể thật hơn. Những va chạm và hiểu lầm của Sanborn dần hóa bỏ khi hình ảnh James quá chân thành, tự tin và vô tư lự trước những hành động lời nói nóng nảy của mình.

William James - chỉ huy trưởng, người trực tiếp thực hiện công việc gỡ mìn và coi đó là một cuộc chơi thú vị. James có lẽ là người ưa sự tự do, tự chủ, chính vì vậy mà anh không mấy quan tâm đến Sanborn từ khi gặp mặt, bỏ mặc ngoài tai lời Sanborn căn dặn: James hút thuốc, nghe rock say sưa, ăn nói đùa cợt...không đặt nặng những qui tắc bó hẹp của quân đội mà muốn tự mình làm mọi việc theo ý mình. Bên ngoài cuộc sống của James là vợ và con gái anh, anh yêu họ nhưng không thể yêu họ hơn những quả mìn. Phút chia tay cuối cùng để anh lên đường lần nữa không làm quá, nhưng vẫn tạo được sự suy tư. James yêu quí đồng nghiệp, như lúc đấu súng với địch ở sa mạc khô cằn, trong nhóm chỉ còn một bịch nước ngọt duy nhất nhưng James lại nhường cho Sanborn và Eldridge khát khô cổ. Bản thân anh vừa mỏi mệt vì làm việc cả ngày, vì cái nắng gay gắt ban chiều, vì khát nước để độ không thể ngậm chặt môi, con ruồi chui vào miệng lúc nào không hay. James là thế và chính vì thế, anh dần tạo dựng hình ảnh một người lính trịch thượng, tự tin và giàu tình cảm.

James và Sanborn đối nghịch nhau vì không tạo được niềm tin cậy từ đầu, James không tin vào luật lệ hà khắc, Sanborn không tin vào sự an toàn "hớ hênh" của người mới đến. Có những lúc Sanborn kiên quyết khó chịu ra mặt, James biết điều đó nhưng anh vẫn là chính mình, quan trọng là anh vẫn giữ tình anh em đồng đội. Một cảnh ban đêm, Sanborn và James chơi trò vật lộn (nhìn cũng dễ ghiền lắm à), đấm đánh nhau rất mạnh (dường như có sự bực tức trút giận) rồi thì James còn cởi áo, đè nhau ra, quần quật nhau...Cảnh này làm bạn liên tưởng tới nỗi sợ cô đơn của người lính giữa lúc chung quanh họ là cái chết rình rập bất kì lúc nào, và chỉ toàn là...đàn ông ! Vì thế mà họ có thèm ôm ấp...gì đó thì cũng có thể thông cảm. Rất nhiều những phim mô tả tâm lí người lính khi anh ta yêu đồng nghiệp mà tôi chỉ có thể nhớ The Unforgiven của Hàn quốc (Ha Jung-woo) hay những cảnh tượng liên tưởng đến gay trong Point Break, Blue Stell, Strange Days ... của chính Kathryn Bigelow - đạo diễn nữ, mà nữ giới thường bị kích thích bởi chuyện đồng tính nam.

Chân dung ba người lính Mỹ với 3 thái cực khác nhau được tác giả tác động mạnh mẽ, tạo được những đồng cảm con người. Ngoài những ưu điểm về xây dựng nhân vật, bộ phim còn thành công khi truyền tải nỗi sợ qua công việc gỡ mìn. Công việc đòi hỏi những yếu tố mà tôi kể trên, những trường đoạn khi James kéo sợi dây kích nổ giấu trong chiếc xe hơi cũ, khám phá ra cách thức đặt bom và thậm chí là những kẻ đặt bom còn cả gan xuống đường để xem anh tháo gỡ chúng ra sao, hoặc khi James tìm ra gần chục dây bom nối nhau ngổn ngang dấu dưới mặt đất...Camera đặt rất gần các cảnh này, tạo cảm giác như người xem đang trực tiếp theo dõi công việc gỡ mìn. James hành động say mê, như một người nghệ sĩ đang thực hiện các thao tác phong túng, thông minh của mình. War is Drug - câu nói mà những người lính như James đủ sức để hiểu. Một cảnh xuất sắc khác đó là khi cả ba giáp mặt một nhóm cùng đơn vị nhưng rất tiếc cuộc hội ngộ trở thành thảm sát thì lần lượt những người này bị lính Iraq từ ngôi đền xa bắn chết, hay những kẻ nép mình bên đàn bò... Cả ba phải gian khó, chờ chực, nằm nép sát cái gò nhỏ thủ sẵn súng để hạ từng tên lính một. Cảm giác căng thẳng, lo lắng, hồi hộp xen lẫn thích thú, hả hê khi James lần lượt "xử đẹp" từng tên một.

Không chỉ tài giỏi một cách bản năng và thông minh nhờ cách làm việc riêng biệt, hiệu quả, đôi khi gây ra những hiểu lầm lẫn lo lắng bực tức của đồng nghiệp, James còn được phác họa như hình ảnh một người quả cảm, có trái tim chân thành dành cho đồng loại. Những lần rãnh rỗi, anh ghé một quầy DVD nhỏ để mua phim về giải trí, tại đây anh bắt gặp một cậu bé thông minh mê đá bóng và lấy tên là Beckham, James quí mến cậu bé này. Cuộc chiến trả thù chua xót khi trong một lần James và đồng đội khai phá căn nhà hoang, anh phát hiện ra xác cậu bé chết rất thảm thương, thân thể đầy máu với một quả bom trong tim. Đó là cách trả thù, đối xử người với người độc ác và tàn bạo nhất tôi từng xem. James xua mọi người ra ngoài để một mình anh gỡ mìn từ trong thân thể đứa trẻ mà anh vô cùng yêu quí. Cảnh phim đau đớn và xúc động hơn cả khi James ôm xác đứa trẻ ra ngoài trong cái nhìn tò mò của đồng nghiệp.


Kịch bản được viết bởi nhà báo, nhà biên kịch Mark Boal với câu chuyện từng chuyện thành phim In the Valley of Elah xúc động năm 2007 - mô tả sơ lược sự ghê tởm nơi chiến trường thì The Hurt Locker lại làm một công việc mang tính nhân văn khác: cuộc sống của những người lính Mỹ ở Iraq. Được làm theo phong cách phim tài liệu với máy quay cầm tay chao đảo đôi khi zoom xa gần tạo cảm giác rất khó chịu ở mắt (tôi cực kì kị kiểu quay này, dù cho phim có hay đến đâu). Nhà quay phim Barry Ackroyd từng thực hiện khả năng của mình thành công với một phim truyện sự thật United 93. Cách dàn dựng đơn giản không kỉ xão, không có những âm nhạc chắt lọc vô ý cố tình đưa vào phim, cách kể chuyện bình dị, đơn giản và diễn xuất của các diễn viên vô danh chân thật là những điểm đáng ghi nhận của The Hurt Locker. Phim còn có sự tham gia diễn xuất của Ralph Fiennes, Guy Pearce, David Morse... - những diễn viên có tiếng trong các vai phụ rất phụ.

Với cảnh kết phim, William James sẽ còn 365 ngày nữa cho nhiệm vụ của mình. Anh sẽ sưu tập vào thành tích của mình bao nhiêu quả bom ? Hoặc là anh sẽ ra đi và không bao giờ trông thấy con mình lớn khôn ? Tôi thầm nghĩ, với kết thúc này, ta cảm nhận rõ chất tài liệu khéo léo của Kathryn Bigelow - người xứng đáng được đề cử Oscar vào năm nay.

Grade: A-

[Review]: Sin Nombre (Cary Joji Fukunaga, 2009)


Hai nam diễn viên nổi tiếng Tây Ban Nha chuyên đóng cặp với nhau là Gael Garcia Bernal và Diego Luna đồng sản xuất phim. Sin Nombre (Without Name) đã nhận đề cử Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất tại BIFA, CFCA...Bộ phim này có thể đặt tựa là Slumdog Mafia.

Bộ phim giới thiệu quanh nhân vật El Casper với biệt danh Willy trong một băng nhóm xã hội đen khét tiếng của vùng. Willy dẫn dắt một đàn em mới là cậu bé có nickname khá hiền Smiley. Trong cảnh Smiley nhập môn, cậu bé gầy gò trông chỉ khoảng 12, 13 tuổi phải chịu những cú đấm đá rất hung bạo của những thành viên cũ trong băng nhóm, điều này chứng tỏ nhiệt tâm của Smiley khi gia nhập và cũng để thử thách lòng can đảm, sức chịu đựng. Một trong những cuộc sát hạch rợn người thứ hai của Smiley, nhằm "giới thiệu" cậu bé một cách chính thức cho Lil' Mago - kẻ cầm đầu, Smiley phải tự tay giết chết một thanh niên lạ vô tình xâm phạm con tàu của nhóm. Người thanh niên có vẻ sợ hãi này khai rằng mình vô tình và phải sống để lo cho vợ con. Mặc dù không nỡ ra tay nhưng những lời thúc ép của Lil' Mago khiến cho Willy "phụ" Smiley một tay trong việc bắn chết nạn nhân này. Chưa hết tính kinh hoàng và man rợ như bầy chó nuôi, Lil' Mago lệnh cho đệ tử ruột làm thịt nạn nhân này và cho chó ăn những phần không đáng giá của cơ thể nạn nhân !


Willy có yêu một cô gái là Martha Marlene nhưng quan hệ của họ bí mật vì Willy muốn giữ an toàn cho Martha. Sự che giấu có điều lợi và hại khi Martha luôn thắc mắc Willy làm gì trong những lúc không bên cô, quá tò mò cô đã cố tình đến nơi hẹn của Willy cùng băng đảng của anh. Lil' Mago vô tình trông thấy Martha đã nảy lòng ham muốn xác thịt. Gã dẫn Martha đi trong cái nhìn tuyệt vọng và lo lắng của Willy. Chuyện gì đến cũng đến, Martha bị quấy rối và cô chống cự quyết liệt, vung tay quá mạnh mà Lil' Mago xô Martha té mạnh xuống bậc đá, đập đầu vào và chết tại chỗ. Lil' Mago trở về đơn độc, biết chuyện chẳng lành, Willy gằn hỏi thì chỉ nghe được một câu phớt lờ: Tìm con nghệ khác đi !


Trong lòng uất hận và căm phẫn nhưng Willy không thể một mình đánh trả cả một băng đảng máu liều, thậm chí cậu còn bị Lil' Mago chĩa mũi vào với tội giấu giếm anh em - một trong những luật lệ của băng này. Giấu nỗi uất hận trong lòng, Willy, Smiley và Lil' Mago lên đường đi La Bombilla trên một nóc tàu di chuyển đến Mỹ. Trong phần giới thiệu trước đó, xen kẽ của phim là về cô bé tuổi vị thành niên Sayra, đang cùng cha và chú đi về New Jersey mong ước một cuộc sống mới. Cuộc di chuyển khó khăn này bỗng chốc trở thành cuộc gặp gỡ định mệnh giữa Sayra và Willy khi cậu cùng Lil' Mago định trấn lột tiền những hành khách nghèo đói. Nhìn thấy cảnh Lil' Mago hung bạo đối xử với Sayra ngây thơ, vô tội và non nớt, Willy bỗng chốc liên tưởng đến những gì bạn gái anh phải chịu đựng vì tên Lil' Mago dữ tợn, độc ác...Nỗi căm phẫn trỗu dậy, Willy không tiếc tay chém sâu vào cổ họng Lil' Mago - cho thằng slumdog này lìa đời.


Willy không tiếc tay giết tên đầu đảng một thời ngưỡng mộ vì ngay sau đó, Willy vẫn bình thản như không, không hề hối hận hay hoang mang, anh kêu Smiley về lại động của bang hội và khai thật rằng chính Willy đã giết Lil' Mago. Bằng cách này, Willy giúp Smiley không bị bang hội tìm kiếm trả thù. Smiley sợ hãi và run rẩy răm rắp nghe theo, răm rắp kể lại mọi chuyện. Hẳn nhiên là lũ chó kia điên tiết lồng lộn lên đòi trả thù, thậm chí đòi giết cả Smiley vì sợ Smiley là "người" của Willy. Chúng bắt tay vào việc truy lùng Willy và quyết không tha mạng. Trong khi đó, giữa Willy và Sayra nảy sinh tình cảm kiểu "anh hùng cứu mỹ nhân" mặc dù cha, chú Sayra khuyên can cô không nên thân thiết với hạng người này. Dù gì thì cả hai cũng có một vài phút giây hạnh phúc ngắn ngủi, được cùng ăn chung trong nhà dì Sayra, được cùng nhìn đoàn người, nhìn mưa rơi...


Willy không muốn liên lụy tính mạng Sayra nên nhân lúc cô ngủ say, anh bỏ đi nhưng cô lại chẳng có ngủ mà cứ lo lắng vì anh, nên đã chạy theo anh. Cả hai tìm đến trạm thu phí xe, và bị đồng bọn của Willy phát hiện đuổi theo. Tại phòng hành chánh, Sayra được tin cha và chú cô bé đã bị giết chết man rợ. Willy cùng Sayra bán cái máy ảnh kts để đổi lấy mấy cái phao hòng bơi qua bờ bên kia. Tuy nhiên Willy chưa kịp thoát thì...


Tui xem thì thấy phim cũng hấp dẫn đấy, tình tiết nhanh, giật gân, bạo lực...nhưng mà thấy không có cảm tình. Tui không hiểu sao lại làm một phim bạo lực và đê tiện, coi thấy rất bất mãn thế này, độc ác và không căn rứt lương tâm gì cả, Điện ảnh kiểu này thật dễ làm cho người ta rùng mình vì sợ tàn độc giết chóc lẫn nhau giữa thực tế ai cũng hô hào độc lập, tự do nhưng vẫn còn đó những thế giới nhỏ bé kinh tởm thế này. Cũng nhờ những thứ độc hại trên mà phim được khán giả Mỹ...ủng hộ nhiệt tình. Đến cái kết phim, thiệt là rúng động khi một thằng bé mới dăm mười tuổi, đủ sức đủ bản lĩnh cầm súng bắn chết Willy giữa lúc cậu và Sayra sắp trốn thoát. Nên tạo một cái kết khác thay vì để em Sayra ngồi thơ thẫn nhớ anh tân trời Mỹ, trông mà sến bỏ xừ.


Grade: C+

Friday, January 01, 2010

[Snapshots]: RICKY (Francois Ozon, 2009















Đầu năm đầu tháng mở chuyên mục mới trên Blog - Snapshots từ DVD, bất kể là bộ phim tôi ưa thích hay không. Mở đầu chuyên mục mới sẽ là hình ảnh trích từ Ricky - bộ phim không thật hay nhưng cậu bé trong phim thật đáng yêu hết sức. Hi vọng hình ảnh sinh ra của cậu bé Ricky như là cuộc hồi sinh một cái gì đó mới mẻ cho bản thân tôi kể từ năm 2010. Và đôi cánh bay cao vút trên bầu trời tự do ấy cũng sẽ thay cho những khát vọng bay cao, bay xa của tôi và bạn...

Thursday, December 31, 2009

[Review]: Tổng kết Top 5 của năm 2009


Năm nay xem phim cũng kha khá mà ít phim hay nên danh sách dưới đây tổng kết cho trước năm 2010, chưa chính thức (và không theo thứ tự nào hết). Hi vọng 1 tháng trước Tết âm lịch sẽ kịp xem một số phim 2009 đáng chờ đợi như Bright Star, Like you know it all, A Single Man...

- Các phim nào chưa review dưới đây, tui hứa sẽ cố gắng review trước Tết âm lịch, hehe, chờ xem.


Top 5 Phim 2009:

1. The White Ribbon (Michael Haneke)
Những cái chết bí ẩn, những vụ tra tấn trẻ em tàn ác không tìm ra thủ phạm. Qúa nhiều nhân vật, quá nhiều ngõ ngách, được kể lại từ một giáo viên trong ngôi làng nhỏ trước khi Thế chiến thứ 1 bắt đầu. Một phim chững chạc và điềm đạm nhất của Michael Haneke, cả về bạo lực và hành động, lời nói. Không có lời giải đáp ở kết phim. Cành cọ vàng cho The White Ribbon không thể xứng đáng hơn.

2. Broken Embraces (Pedro Almodovar)
Crúz chưa bao giờ xuất sắc hơn, quyến rũ hơn, bí ẩn hơn trong vai Lena - ngôi sao bạc mệnh. Mặc dù Broken Embraces không có những đột phá nào đáng kể nhưng những khung hình mê hồn của phim cũng đủ để cho người xem trầm trồ ngưỡng mộ.

3. Drag Me to Hell (Sam Raimi)
Phim kinh dị hay nhất năm 2009. Đã có review.

4. Mother (Bong Jong-ho)
Mother là niềm tự hào của Điện ảnh Hàn quốc, bởi sự nhạy cảm tinh tế mà nó mang lại, áp đảo Thrist của Park Chan-wook hay những phim giật gân của Kim Ki-duk. Rất tiếc, vẫn chưa thấy FYC của Mother tại Oscar năm 2010 tới.

5. Ingelourious Basterds (Quentin Tarantino)
Dễ dàng là phim đáng chú ý nhất năm không chỉ bởi doanh thu mà còn là những giải thưởng, đề cử mà nó đạt được. Bộ phim này suýt chút nữa trở nên hoàn hảo (chờ xem review).


Top 5 Phim 2008 (đã xem trong năm 2009):

1. The Headless Women (Lucrecia Martel)
Almodovar có thể là tài hoa đã được nhìn nhận, và Martel sẽ là những gì khán giả trông đợi vào sự đổi mới trong Điện ảnh Tây Ban Nha. Câu chuyện của chị đơn giản, mà cũng chẳng có tiết lộ cái uẩn khúc của phim. Nỗi sợ hãi luôn là tâm điểm.

2. Two Lovers (James Gray)
Hai, ba lần xem sau sẽ thấy Two Lovers duyên dáng, trữ tình và cuốn hút một cách kì lạ.

3. 35 Rhums (Claire Denis)
Chưa thấy đạo diễn nữ người Pháp nào chạm được đỉnh cao của Ozu như Denis. 35 Rhums là đáng tự hào cho một sự chín chắn và hấp dẫn đến lạ lùng.

4. Still Walking (Hirokazu Koreeda)
Dễ dàng là một trong những phim đáng xem và phải xem của năm 2008. Một phim mà khi kết thúc rồi, đọng lại trong ta là những trăn trở về cuộc đời, về gia đình, cha mẹ...

5. The Hurt Locker (Kathryn Bigelow)
Không xuất sắc như những lời ban tặng song là một tác phẩm nhỏ, chân thật, súc tích, chặt chẽ và đầy tình cảm. Một đạo diễn nữ làm nên The Hurt Locker quả không phải tầm thường.


Top 5 Diễn xuất:

1. Dàn diễn viên của Ingelourious Basterds - Brad Pitt chuẩn về giọng, điệu bộ, dáng đi, diễn xuất, ngoại hình tỏ rõ một kẻ "bần tiện" và Diane Kruger không thể xuất sắc hơn khi thủ vai minh tinh màn bạc kiêm điệp viên...chết sớm. Diane Kruger tôi đánh giá là xuất sắc nhất phim, diễn như không, mà thậm chí là chuẩn cho những minh tinh thời kì đó luôn. Trong khi Mélanie Laurent rõ là vai chính (không bàn cãi) nhưng diễn vẫn còn non, nhất là đoạn tay đôi với Chris Waltz sau 4 năm "hội ngộ". Waltz được giải ở Cannes, đề cử từa lưa nhưng theo tôi, không hơn Brad Pitt là mấy, chẳng qua vai này có kịch tính dữ dội hơn, là kẻ châm ngòi cho "kịch bản trả thù" của phim. Tất cả các diễn viên còn lại đều tốt, giá mà cha nội Tarantino đừng cắt bỏ mấy cảnh của Trương Mạn Ngọc thì hay phải biết. Cái kiểu "bần tiện" của Isabelle Huppert trong The Piano Teacher rất độc, vậy mà Huppert và Tarantino không hợp tính nhau lắm nên không hợp tác, uổng ghê.

2. Kate Winslet (The Reader) - Xúc động đến nghẹn ngào, đó là những gì mà Kate làm được, dù cô không xuất hiện nhiều nhưng cô nổi bật nhất, gây cảm xúc nhất và xứng đáng là Diễn viên nữ chính của năm 2008.

3. Kim Hye-ja (Mother): Mười năm vắng bóng trên màn ảnh, bỗng trở lại và hóa thân ngoạn mục vào vai một người mẹ yêu con đến điên cuồng. Xứng đáng là một trong những vai diễn nữ của năm 2009.

4. Penelope Crúz (Broken Embraces): Kể ra vai của Crúz trong phim không nhiều, nhưng diễn có chiều sâu và đằm thắm hơn cả Volver sướt mướt và ấn tượng. Ai muốn xem bầu ngực nõn nà của Crúz dưới ánh nắng mặt trời thì nên xem phim này, nàng ta vẫn quyến rũ và bí ẩn, nhất là trong đoạn nàng dùng chân chống để đập cái máy quay phim.

5. Charlotte Gainsbourg William Dafoe (Antichrist) - Ai cũng dành lời tặng cho Charlotte Gainsbourg mà quên mất lời khen xứng đáng cho cô là ở sự can đảm: can đảm thoát y trần trụi đi qua đi lại trên màn ảnh, can đảm thủ dâm dưới gốc cây, can đảm chịu xấu xí, chịu nhục hình thể xác, can đảm chịu quay cảnh cắt âm vật...sự can đảm mà ta chưa bao giờ thấy ở Gainsbourg sau nhiều năm làm diễn viên. Nhưng rõ ràng diễn xuất của cô trong phim, không có gì đặc biệt. Mà đỉnh cao là William Dafoe - bị lép vế hơn bởi sự điên loạn của nhân vật She, song He của Dafoe tỏ ra chững chạc hơn hẳn. Cả hai đã làm nên bộ phim shock nhất năm 2009.


p/s: Còn một số mục hấp dẫn khác sẽ tổng kết nay mai. 2010 đánh dấu 10 năm của Điện ảnh đương đại thế kỉ 21 mà tui vẫn chưa tìm ra được 10 phim hay nhất 00s mới chết chứ.

Wednesday, December 30, 2009

[Review]: The Limits of Control (Jim Jarmusch, 2009)


Đây là một phim phong cách nhất của năm 2009. Đồng thời, cũng là tác phẩm road-movie của Jim sau 4 năm với Broken Flowers - giải thưởng lớn Cannes. Qui tụ một dàn diễn viên thực lực nhiều nơi, tác giả đưa người xem đến vùng đất Madrid - Tây Ban Nha đầy mê hoặc và say đắm. Mỗi một hành trình là một chuyến đi, và chuyến đi của The Limits of Control chứa nhiều bất ngờ và bí ẩn.

Để định nghĩa The Limits of Control một cách tỉ mỉ hơn thì nó phải là bộ phim được tính toán cầu kì và chi li nhất của Jim Jarmusch. Thông thường bộ phim sẽ dạo nhạc khi bắt đầu bước đi đến một nơi nào đó. Sau đó là im lặng, sự cô độc của và tiếng cười nói bên ngoài. sẽ bắt đầu quan sát xung quanh, những tác động bên ngoài. Thời lượng của các cảnh được sắp xếp cân bằng, lặp đi lặp lại: hành trình đi đến một địa điểm, âm thanh của thiên nhiên- tiếng chim, tiếng gió, tiếng máy bay hòa chung với tiếng nhạc. Một khoảng lặng cố định khi Kẻ lang thang - nhân vật chính, trong bộ đồ vest thiền. Anh ta kiệm lời, khuôn mặt lạnh lùng.

Kẻ lang thang luôn gọi hai ly espresso đậm đặc, một ly để uống cạn trước khi tiếp xúc. Khi gặp một đối tượng mới, câu đầu tiên giữa là họ là tiếng Tây Ban Nha "You don't speak English, right ?", kẻ lang thangsẽ lắc đầu hoặc nói "không" và họ tiếp tục trò chuyện bằng tiếng Anh. Trong đó, câu chuyện giữa họ luôn lặp đi lặp lại một ý nghĩa nhất định, không đi đâu xa, vì nội dung thoại ngắn gọn cả nghĩa đen lẫn bóng. Sau đó, họ trao đổi những hộp diêm có hai màu: đỏ và xanh. Người khách lạ ra đi, trong mỗi hộp diêm đều chứa một mảnh giấy nhỏ ghi địa chỉ, cùng nét chữ, cùng kích cỡ. Kẻ lang thang sẽ vò nát nó, cho vào miệng, nhai và nuốt cùng với ly espresso cuối cùng. Cứ thế, mọi thứ tuần hoàn lặp đi lặp lại. Cho đến khi tìm đến đích.

Bộ phim rẽ theo mạch chuyện khác: cuộc trả thù của Kẻ lang thang. Cô bạn gái chết trần trụi trong một căn nhà hoang. Bill Murray trong một vai không khó nhưng không truyền cảm. Mọi động tác, lời nói của nhân vật này không tạo được sự thật. Chưa kể trông như mọt kẻ tiểu nhân khi dùng dây cước siết cổ nạn nhân của mình. Cuối phim, trở về làm một người bình thường: áo thun, quần cotton. Kẻ lang thang nói một câu hay nhất từ đầu đến cuối phim. Đó là khi Bill Murray hỏi vì sao anh vào được căn phòng mật của ông, anh trả lời: Tôi sử dụng trí tưởng tượng của mình.

Đây có thể là phim ít chất Jim Jarmusch nhất mà tôi từng xem, không thể cười nổi (vì quá thất vọng ?) hay vì nó như một tribute đến Paris, Texas của Wim Wenders qua hình ảnh núi non, ngoại cảnh và tiếng nhạc giutar ? Tây Ban Nha thì hẳn sẽ không thể thiếu Flamenco và quả thật cảnh phim đàn hát giai điệu đầy khắc khoải này đã phần nào cứu vớt tình trạng khô cạn, khô khan của phim. Âm thanh cả phim được làm đầy bởi nhiều tạp âm với tiếng nhạc, chỉ những khoảng khắc im lặng thật sự khi Kẻ lang thang thiền.

Jim Jarmusch những tưởng đã chọn cho mình và hình dung trong đầu một hình ảnh thật cool, nhưng diễn viên thì lại hoàn toàn là một nỗi thất vọng lớn. Thậm chí, nếu nhìn diễn viên Isaach De Bankole' trên Poster vẫn còn đỡ chán hơn khi xem anh ta di chuyển: bước đi, thiền...đều có điệu bộ rất kì cục, không được đàn ông và cá tính cho lắm. có khuôn mặt xương xẩu, da đen nhẻm, khá mất cảm tình. Điểm trừ nữa là giọng nói, biểu cảm diễn xuất gần như không có. Chưa kể, Jim xây dựng nhân vật quá cứng nhắc, thậm chí thô lỗ cộc cằn khi quát mắng anh bồi bàn ở quán cafe'. Nhân vật chính đã không tạo được cảm tình thì thật khó mà theo dõi hành trình của anh ta và thông cảm cho nó.

Nhà quay phim Christophe Doyle không tạo được nét đẹp trong bộ phim này, và lặp lại những kĩ thuật cũ trong những cảnh nội, cảnh bước chân...Phim phô bày cơ thể của Paz de la Huerta nhưng nhân vật này không có gì đặc biệt ngoài cảnh cô ta ở truồng rồi mặc chiếc áo mưa trắng muốt. Cả phim, Kẻ lang thang như một vị sư, không đả động gì đến thân xác của anh ta và của phụ nữ. Thậm chí, "Nude" cũng chỉ nằm cạnh anh ta trên giường, trong giấc ngủ.

The Limits of Control nếu bị chê dở nhất năm cũng là vì tất cả diễn viên còn lại góp mặt trong phim cũng không tạo được ấu ấn riêng, thứ nhất là họ xuất hiện quá ít, cách xây dựng nhân vật quá mờ nhạt, thiếu sức sống và giả tạo. Một Tilda Swinton "Blonde" kì quặc từ ngoại hình đến dáng đi và ô dù giữa trời trưa nắng. Một Youki Koduh "Người soát vé tàu" diễn rất gượng ép. Câu chuyện của phim cũng không có gì đặc biệt. Điểm đáng khen ngợi duy nhất vẫn là một phong cách mới cho dòng phim trả thù pha lẫn tội ác (buôn bán kim cương xuyên lục địa) và những tính toán mang tính rõ ràng trong một tổng thể rất mơ hồ, có phần lãng mạn.


Grade: C+

Monday, December 28, 2009

[Review]: The Pianist (Roman Polanski, 2002)


Đây là câu chuyện tự thuật của một trong những nhân chứng còn lại, sống sót để đấu tranh cho sinh mạng của mình, qua cái nhìn trực tiếp của anh về cuộc chiến Thế giới lần hai. Đó là Wladyslaw Spilzman - nghệ sĩ dương cầm có tiếng gốc Do thái, làm việc cho đài phát thanh Warsaw. Trong cảnh đầu tiên, ta nghe những giai điệu du dương của phím đàn Piano, ngay sau đó là những âm thanh vang rền của bom đạn, mái nhà thủng dột, đất cát văng tứ tung...Spilzman vẫn gắng chơi trọn bản nhạc cho buổi phát thanh, nhưng té ngã vì bom đạn. Khi Spilzman trở ra bên ngoài, tìm cách thoát thân thì cảnh tượng thành phố đã náo loạn. Cũng trong phút đầu, anh gặp phải . Đó là ngày 1 tháng 9 năm 1939, Pháp và Anh công khai chiến tranh với Đức quốc xã.

Nam diễn viên Adrien Brody trở thành người trẻ nhất nhận giải Best Leading Actor trong lịch sử Oscar. Đồng thời Brody cũng là diễn viên Mĩ duy nhất nhận giải cùng hạng mục tại LHP César của Pháp. Bộ phim được vinh danh tại Oscar với giải Kịch bản, Polanski lấy lại ánh hào quang bằng tượng vàng Đạo diễn xuất sắc nhất, ở BAFTA nó giành hai giải Phim hay nhất, Đạo diễn xuất sắc nhất. Ở Cannes, The Pianist ẵm phần thưởng danh giá Cành cọ vàng.

Âm nhạc trong phim được chọn lọc từ Chopin, Moonlight Sonata của Beethoven, Bach, Janusz...

Cái cốt lõi và chính yếu của The Pianist không phải chiến tranh, mà là cái Đẹp. Spilzman hiện thân cho cái Đẹp, đơn giản vì anh là một nghệ sỹ thực thụ, là người có tài hoa và học thức, tính khí điềm đạm, ăn nói lưu loát, tự thân những điều đó đã là một kẻ Đẹp những lòng những kẻ phàm phu tục tử khác. Và cái Đẹp thì luôn đứng trước những thử thách là cái Xấu, đại diện không ai khác ngoài cuộc chiến tàn khốc đang diễn ra. Cái Xấu ấy còn lộ diện trực tiếp qua hình ảnh của những tên lính Đức bắt giết và tàn sát người Do thái một cách dã man. Spilzman như cái Đẹp sống sót giữa cái Xấu, giữa thời cuộc đổi thay, sức tồn tại của cái Đẹp vẫn là vĩnh cửu. Trong cảnh đầu tiên, ta đã chứng kiến tận mắt, tai nghe mồn một giữa tiếng đàn, tiếng bom.

Những cảnh tàn bạo sau đó, ta thấy mình như gia đình Spilzman hoặc chính anh - trong cuộc chiến nhưng đứng ngoài nhìn với đôi mặt "kể lại sự việc": quân lính vào một căn nhà, bắt tất cả thành viên trong gia đình đứng dậy khi họ đang ăn tối. Một người đàn ông đứng tuổi ngồi xe lăn hoàn toàn không thể đứng dậy, một trong những tên cầm đầu đẩy ông ta ra lan can, xô ông ta té xuống cửa sổ mặt đường, chết tại chỗ. Một ít phút sau, những thành viên còn lại bị giải xuống tầng trệt, ra đường, bị chơi trò "may rủi" bằng cách để cho họ tự chạy thoát thân và lính Đức chỉa súng bắn chết từng người một, tất nhiên cách giết người này có vẻ hứng thú và hấp dẫn hơn, đồng nghĩa với việc độc ác hơn.

Xuyên suốt phim, cái Đẹp - Spilzman luôn phải chứng kiến và thậm chí nhiều lần đứng tim khi bị lưu đày trên nơi mình từng sinh sống. Những cái chết đến một cách có chủ đích, nhưng kẻ chết lại không biết chính xác lúc nào và khi nào mình chết. Cái Xấu luôn ngự trị rõ rệt: những người già nghèo đói phải liếm cám trên mặt đường, những kẻ chạy trốn phải chia nhau từng miếng nhỏ xíu của một cái bánh bé tí tẹo. Rồi những tiếng súng nhanh, gọn lẹ. Cách giết người theo "may rủi", chết theo thứ tự "chẵn" hoặc "lẽ" của hàng người xếp nhau nườm nượp. Mới nhìn thấy đồng loại mình bị bắn, rồi sẽ đến lượt mình. Không tiếng than, khóc, run rẩy...cái chết làm như "nhẹ tựa lông bào". Rồi cái Đẹp - điệu nhảy tiếng hát của khổ dân làm trò mua vui cho cái Xấu - những tên lính bệnh hoạn với cách tra tấn vô nhân tính.

Spilzman liệu có phải là cái Đẹp thật sự ? Trong hoàn cảnh của anh lúc đó, không thể giúp đỡ hai phụ nữ đã từng đến trước mặt anh van xin: Người mẹ trẻ lê lết ôm con trai bệnh nặng sắp chết, người đàn bà ăn mặc diêm dúa hóa điên khi chồng chị bị người ta giết. Bao nhiêu nỗi đau ấy, như chắt lọc trong sâu thẳm trái tim Spilzman những tinh hoa của cuộc đời, những vui buồn sướng khổ để hồn mình đồng điệu với nghệ thuật, qua những phím đàn dày dạn hơn.

Một phàm trù khác, tôi có cảm tưởng Spilzman mang hình ảnh của những kẻ đi theo Chúa. Tuyệt nhiên, ta không hay biết anh có Tôn giáo nào, song hãy nhìn vào số phận của anh: mất nhà cửa, mất cha mẹ, anh chị em, mất cả công việc mà nói cho phải lẽ thì một nghệ sỹ dương cầm sẽ chết ngay ở tâm hồn nếu như không được chơi đàn trong thời gian dài. Spilzman mất tất cả, đó là chính là thử thách của anh trước cuộc sống mà Chúa trao ban. Hình ảnh Spilzman - một kẻ Do thái đầu tóc rũ rượi, loay hoay tìm cách sinh tồn trong những ngôi nhà đổ nát, trên những con đường đất đá ngổn ngang, nó đồng điệu với hình ảnh những con người dám từ bỏ, dám mất tất cả để đi theo Chúa, hoặc theo một chân lý riêng. Tất nhiên, lớp ý nghĩa này có vẻ không hoàn toàn đúng với đoạn kết của phim: Spilzman sống sót, nhưng là một con người mới, trong chiếc áo khoác của Wilm Hosenfeld - một tên sĩ quan Đức (đại úy) cưu mang anh sau 5 năm Spilzman sống lay lắt.

Nói đến Wilm Hosenfeld, ta quay trở lại cái Đẹp. Hosenfeld thực chất là một trong những tên giết người dã man, vì QUốc gia vì nhiệm vụ, nhưng sâu thẳm trong anh ta là người có khí chất, biết thưởng thức nghệ thuật. Nói đến đây chắc các bạn nhớ ra câu chuyện trong "Chữ người tử tù" của Nguyễn Tuân. Cũng chính vì yêu cái Đẹp - tiếng đàn ngập ngừng của Spilzman sau nhiều năm không sử dụng các ngón tay, mà đã tìm cách cứu vớt. Spilzman sống sót, tiếp tục hành trình làm một nghệ sỹ dương cầm trên đất nước tàn phá. Anh cố gắng duy trì cái Đẹp ấy dù phải đánh đổi, dù phải đội lên người và hồn một lớp áo khoác của Đức Quốc xã. Ta chẳng chê trách Spilzman, sau rốt, anh vẫn là hiện thân cho cái Đẹp. Đó là tất cả những gì mà Roman Polanski mong muốn khi làm lại câu chuyện mà ông được nghe lại. Có lẽ, Polanski cũng là một người - tất nhiên yêu cái Đẹp của nghệ thuật và thật sự cảm mến nó.

Thế nhưng lí do vì sao tôi không thể quá cuồng nhiệt yêu thích The Pianist ? Hay chí ít là lưu luyến nó ? Bởi vì, thật ra thì tôi thiếu cảm xúc khi xem phim. Ngoài những hình ảnh giết người tàn bạo, mất nhân tính, chết đi như một cái máy lập trình sẵn: tôi bắt ăn nằm, anh phải nằm xuống, im phăng phắc, tôi sẽ bắn anh, không một lời kêu than, không một tiếng rên rỉ. Những cái chết ngẫu hứng: . Đó là cái khốc liệt và cái tạo được nỗi sợ hãi, rùng mình trong tôi. Những gì còn lại, đều trở nên bình lặng, không xúc động, cũng không buồn chán. Nó mang thứ cảm giác rất kì lạ. Có vẻ, tôi chỉ thấy sự đấu tranh sinh tồn của cái Đẹp mà không thể dành những suy tư mang tính tự sự cho Spilzman, cho mối tình ngắn ngủi giữa anh và, cho Spilzman và gia đình anh.

Tôi chỉ thấy Spilzman hành động và hành động, vì mọi thứ xung quanh anh không chịu ngừng lại một phút nào: giết chóc. Ta xem để ta thấy nỗi sợ, sự may rủi, của Spilzman nhiều hơn là suy tư, trăn trở của anh. Do đó, The Pianist mang cái chung của nhân loại, mà để hiểu và yêu thích cả một nhân loại, với tôi, khó tiếp thu hơn một nỗi buồn tự sự, tiểu tự sự.

Spilzman sống tại Warsaw và mất năm 2000, hưởng dương 88 tuổi.


Grade: B

Sunday, December 27, 2009

[Review]: Ricky (Francois Ozon, 2009)


Những ai yêu mến Francois Ozon có thể có một chút thất vọng với Ricky, vì anh hầu như đã đánh mất những ưu điểm của mình. Ngược lại, những khán giả chưa bao giờ yêu thích Ozon hoặc chưa biết đến anh, thì họ sẽ tìm thấy được ở Ricky một nguồn sáng duy nhất, nhỏ thôi nhưng đủ sưởi ấm trái tim bạn. Lần đầu tiên để cho những diễn viên nhí đóng các vai quan trọng, Ozon cho thấy anh không chỉ già dặn một cách bất ngờ (Under the Sand) mà còn là chàng đạo diễn vui tính, hài hước và thấu hiểu trẻ con.

[Bài viết tiết lộ kết thúc phim]

Những ai yêu mến Francois Ozon có thể có một chút thất vọng với Ricky, vì anh hầu như đã đánh mất những ưu điểm của mình. Ngược lại, những khán giả chưa bao giờ yêu thích Ozon hoặc chưa biết đến anh, thì họ sẽ tìm thấy được ở Ricky một nguồn sáng duy nhất, nhỏ thôi nhưng đủ sưởi ấm trái tim bạn. Lần đầu tiên để cho những diễn viên nhí đóng các vai quan trọng, Ozon cho thấy anh không chỉ già dặn một cách bất ngờ (Under the Sand) mà còn là chàng đạo diễn vui tính, hài hước và thấu hiểu trẻ con.
[Bài viết tiết lộ kết thúc phim]

Ricky mở đầu với giọng nói của một người mẹ, chị ta lo lắng về sức khỏe và sinh sản. Đó là một phụ nữ khoảng 30 tuổi, dáng người cao và khỏe khoắn, làm công nhân trong một xí nghiệp sản xuất sữa đóng chai. Hàng ngày, chị chở con đến trường bằng xe máy rồi vội vã đến chỗ làm. Tại đây, chị quen với một công nhân nam - Paco. Trong giờ ăn trưa và trong giờ nghĩ giải lao, họ nói dăm ba câu rồi vội vàng đi tới quen hệ nơi phòng vệ sinh. Chị vội vã quay lại chỗ làm, nhưng chỉ vài giây sau, chị ngất xỉu. Lần đầu tiên, cô con gái bé bỏng của chị phải đợi chị trong màn đêm. Cuối cùng, chị cũng đến rước con. Tên của chị là Katie.

Con gái Katie, Lisa - không hồn nhiên và ngây thơ như những đứa trẻ khác. Cô bé biết quan sát, bực tức khi trông thấy mẹ đang ngồi ăn sáng cùng người tình. Quan sát thấy anh ta đang trò chuyện vui vẻ với một phụ nữ khác. ngủ với một búp bê trai nhưng lại có vẻ lo lắng khi nghe bác sĩ báo tin mẹ cô bé sắp sinh một quí tử. Paco - liệu có phải là cha của đứa trẻ mới chào đời, Ricky ? Ta không có câu trả lời chính xác. Thời gian của phim trôi qua nhanh chóng, Ricky lớn dần và quấn quýt với mẹ nhiều hơn bất kì ai. Cậu bé trông thật bụ bẫm đáng yêu biết chừng nào. Hai bầu má phúng phính căng mọng sữa, lúc nào cũng ánh hồng lên, đôi mắt tinh anh. Có điều Ricky thỉnh thoảng hay kêu khóc một cách kì lạ, không dứt, trên hai bả vai xuất hiện vết đỏ tía khá to. Một buổi sáng nọ, cô chị bỗng không thấy em trai mình nằm trong chiếc nôi, vội vã gọi mẹ vào. Điều kì lạ đã diễn ra, Ricky bấy giờ ngồi tuốt trên cái nóc tù cao chót vót mà cả mẹ cậu bé nhón chân còn khó với tới. Vậy vì sao Ricky trèo lên đó được ?

Khi mẹ cậu bé sơ ý để rơi cậu con trai từ nóc tủ xuống đất (cảnh tượng hơi dã man) ta thấy họ không hề khóc thét hay sợ hãi mà như họ vừa khám phá ra điều bí ẩn nào đó. Ricky, nơi hai bả vai của cậu từng đỏ tấy lên, mọc ra hai cái cánh bé tí xíu, vẫn còn rướm máu. Bí mật của phim, cũng là điểm sáng của phim được tiết lộ: Ricky không phải cậu bé bình thường, cậu có cánh. Nhưng câu hỏi đặt ra lần nữa: Cha cậu bé là ai ? Và họ điều tra nguyên nhân này thế nào ? Tôi không biết phim có giải thích hay không, vì các cảnh trong phòng bác sĩ tôi chả hiểu tí gì, chỉ thấy có chụp X-quang thôi.

Phim bắt đầu hào hứng kể từ khi đôi cánh Ricky to lớn dần, mọc lông rậm rạp. Cậu bé có một trận bay nhảy quậy tưng bừng cái siêu thị khiến cho đám nhân viên bảo vệ chóng cả mặt. Cuối cùng cậu bé cũng ngoan ngoãn trong vòng tay mẹ, trở về nhà. Sự kiện Ricky - thiên thần tí hon có cánh, được đăng tải trên truyền hình, nhiều phóng viên, khán giả đã tìm đến chung cư của ba mẹ con chỉ để mong được phỏng vấn, được kiểm chứng đôi cánh thiên thần của Ricky. Sau nhiều lần đắn đo, và cùng con gái đã đưa Ricky ra bên ngoài, cho cậu bé bay lên và cột dây để có thể đảm bảo Ricky không bay đi mất.

Cảnh tượng diễn ra như truyện thần tiên, cổ tích. Ricky bay lên với đôi cánh mỗi ngày một lớn dần, mạnh mẽ, khỏe khoắn. Mọi cặp mắt đổ dồn về cậu bé. Lúc này đây, tôi tin chắc trong số họ và cả những khán giả như tôi, cũng ao ước một lần bay lên cao như thế, xa như thế. Ước mơ này là ước mơ nhỏ bé của rất nhiều cô cậu bé và cả người lớn. Mơ ước ấy có thể vì tính khám phá, tính phiêu lưu. Cũng có thể vì ta đã cảm thấy quá chán ngán cuộc đời trần gian. Quá thất vọng về những gì đang diễn ra quanh ta. Ta muốn bay lên, bay cao để đến một nơi nào đó yên bình, dù chỉ một ngày.

Người mẹ nhìn theo đứa con trai, lòng chị chắc chắn đã để quên mất tâm trí ở tận trời cao. Chị vuột tay làm mất sợi dây mà không hề hay biết. Khi chị bừng tỉnh thì Ricky đã bay thật xa, băng qua một đám cây phía trước. Chị lặng lẽ, bơ phờ và sống những ngày sau đó như chẳng còn gì để hi vọng. Một buổi sáng, Katie trong bộ đầm ngủ màu trắng, lang thang trên cánh đồng, rồi chị quyết định đánh liều để mong gặp lại Ricky. Chị bước xuống hồ nước, xa mãi cho đến lúc nước sông hồ đã vượt quá cổ của chị. Bỗng chị nghe tiếng vỗ cánh từ xa. Ricky quay trở lại. Cậu bé vẫn tí hon, bụ bẫm chứ không cao lớn...như một người đàn ông nhưng ngược lại, đôi cánh của Ricky lúc này đây thật sự là đôi cánh thiên thần. hiểu chị chẳng thể nào giữ nổi Ricky như giữ một con cá tron bể kính, con chim trong lồng...chị cho Ricky tự do, "đủ lông đủ cánh" nhưng cậu bé vẫn còn quá non nớt và ngây thơ. quay trở về với gia đình bên cạnh con gái và . Chị có thai, chẳng biết người xem sẽ nghĩ sao về việc này. Ta thấy chị hạnh phúc nhìn ra bầu trời xanh.

Nếu được biên tập để cắt bớt một số cảnh nóng dù rất nhẹ của phim, để Ricky trở thành phim fantasy cho trẻ em, chiếu cho chúng xem vào dịp Giáng sinh này thì hạnh phúc nào bằng. Lúc ấy, tôi tận mắt chứng kiến những khuôn mặt trẻ thơ ồ lên, môi hả ra, mắt xoe tròn kinh ngạc khi trông thấy một cậu bé trắng nõn với đôi cánh bay trên bầu trời xanh. Tôi nghĩ với Ricky, Francois Ozon muốn hiện thực hóa từ tác phẩm La Ballon Rogue kinh điển trước đây. Thậm chí, bộ phim này chắc sẽ làm Wim Wenders thích thú lắm đây (xem Wings of Desire).

Mặc dù Francois Ozon có ý tưởng thật hấp dẫn, cách anh trình bày lại chưa nhất quán, chưa thật sự thuyết phục. Sự thiếu nhất quán và chưa thuyết phục này cũng nằm ở việc Ozon đánh mất đi ưu thế của mình. Người ta thường thấy ở anh đầu tiên là tính dục, sự hài hước, âm nhạc và những uẩn khúc. Với một phim mà nhân vật chính là một cậu bé thì không thể nào đề cao tình dục, khỏa thân và những gì giật gân ta thường thấy trong Criminal Lovers (1999), 8 Femmes (2002), Swimming Pool (2003), Time to Leave (2005)...Mỗi phim có một câu chuyện, cách khai thác khác nhau. Khi xem Ricky, những giây phút đầu tôi luôn nghi ngờ Ricky là một bào thai của Ác quỉ hay đại loại như vậy [trailer phim không hề tiết lộ bí mật phim]. Đến khi bí mật về Ricky và đôi cánh thiên thần thì tôi mới vợ lẽ. Ở đây, Francois Ozon gặp trục trặc trong việc khai thác câu chuyện. Nếu là đề tài kinh dị như Joshua, Omen...hay mang tính luân hồi như Birth thì các cảnh phim của Ricky phù hợp hơn. Còn nếu đã mang tính fantasy về một cậu bé thì đạo diễn nên tiết chế tình dục, những chủ đề người lớn để đưa phim đến cái tầm của phim thiếu nhi, phim gia đình, đề cao tình mẫu tử hoặc đề cao khát khao, tự do...

p/s: Ôi, xem phim mà thèm có con trai quá đi mất. Hix, bản tính mê trai dần chuyển qua mê cả con nít (con trai) nhưng là sự đam mê trong sáng, thuần khiết đó nhe. Cứ hễ ra đường gặp bé trai dưới 4 tuổi mà bụ bẫm, xinh xắn lại muốn chạy lại nựng rồi. Cậu bé đóng vai Ricky đáng yêu quá đi mất, hai cái má, ta nói, nhìn muốn cắn rồi hà. Con nhà ai mà xinh đáo để. Cha Ozon giỏi dụ con nít ghê ta ơi. À, các bạn xem Poster cũng đủ hiểu bé xinh thế nào rồi nhe. Đóng phim này, tất nhiên mẹ bé Arthur Peyret luôn thường trực - một phụ nữ chưa tới 30t. Xem Bonus mới vở lẽ, đôi cánh thiên thần tất nhiên được làm kĩ xảo mà sao ta nói xem phim cứ tưởng là thật vì săm soi thật kĩ cũng không tìm ra được chi tiết giả tạo của nó. Cậu bé Peyret ngoan cực kì, nằm trên nệm cho anh Ozon nhà ta thử các loại cánh nhỏ đến lớn. Không chỉ ngoan, Peyret còn rất hiếu động và không hề khóc, rất thân thiện và thích thú với đoàn làm phim, đúng là Ozon đã tìm thấy "cục cưng" đáng giá của mình, giúp cho công tác làm phim đỡ vất vả hơn nếu lỡ "đụng" phải cậu bé khó tính. Khâm phục cậu bé và cả ba mẹ cậu bé khi cho cậu tự đóng tất cả các cảnh bay trên không với chỉ khoảng 4 sợi dây lơ lửng trên độ cao từ 2 mét trở lên. Rất nguy hiểm. Tất nhiên ba mẹ của cho cậu đóng phim vì nhiều lí do: tiền, sự thuyết phục của đạo diễn và hơn thế là vì hình ảnh thiên thần của Ricky ai mà chả thích, chả thấy tự hào, vinh dự. Nhưng mà thích thì thích chứ tôi dám đảm bảo chả ai mong sinh con lại mọc cánh rồi bay đi mất thế kia phải ko nhỉ.

Xem phim tiếng Pháp bản phụ đề tiếng Trung Quốc, nên các câu thoại tôi không thể nào hiểu được, nội dung phim thì đơn giản nên mới có thể viết review này để các bạn đọc. Ai nghiệm ra điều gì khi xem và hiểu thoại thì đóng góp giúp tôi. Merci.

Grade: B+ (dành cho cậu bé đóng vai Ricky điểm 10)

Thursday, December 24, 2009

[Merry Christmas]: Silent Night

Đêm nay thật vội cậu ạ. Tớ chỉ có 3 tiếng đồng hồ để dựng và upload lên Youtube. Cậu biết đấy, tớ phải dành trọn một tuần để lo việc Giáng sinh.



Tớ chuẩn bị clip này trong vòng nửa ngày, vì vậy chắc là hiệu quả không đạt như ý nhỉ. Nhưng hi vọng đây là món quá bất ngờ nhất của tớ dành cho cậu Giáng Sinh này. Những lời trong clip cũng là lời của tớ.

Tớ cũng tham lam xin gửi tặng tất cả những ai đến thăm entry này một đêm Noel ấm áp, đừng cô đơn nữa, hãy vui và cười thật lâu để tận hưởng gió mới nhé.

Merry Christmas !!!

Wednesday, December 23, 2009

[Award]: Dự đoán kết quả London Film Critics

FILM OF THE YEAR
Avatar
The Hurt Locker
A Prophet
The White Ribbon
Up in the Air
Winner: The White Ribbon

BRITISH FILM OF THE YEAR
Bright Star
An Education
Fish Tank
In the Loop
Moon
Winner: Bright Star

FOREIGN LANGUAGE FILM OF THE YEAR
The Class
Katyn
Let the Right One In
A Prophet
The White Ribbon
Winner: The White Ribbon

DIRECTOR OF THE YEAR
Jacques Audiard – A Prophet
Kathryn Bigelow – The Hurt Locker
James Cameron – Avatar
Michael Haneke – The White Ribbon
Jason Reitman – Up in the Air
Winner: Michael Haneke – The White Ribbon

BRITISH DIRECTOR OF THE YEAR
Andrea Arnold – Fish Tank
Armando Iannucci – In the Loop
Duncan Jones – Moon
Kevin Macdonald – State of Play
Sam Taylor-Wood – Nowhere Boy
Winner: Andrea Arnold – Fish Tank

ACTOR OF THE YEAR
Jeff Bridges – Crazy Heart
George Clooney – Up in the Air
Tahar Rahim – A Prophet
Michael Stuhlbarg – A Serious Man
Christoph Waltz – Inglourious Basterds
Winner: Jeff Bridges – Crazy Heart

ACTRESS OF THE YEAR
Abbie Cornish – Bright Star
Vera Farmiga – Up in the Air
Mo’Nique – Precious
Carey Mulligan – An Education
Meryl Streep – Julie & Julia
Winner: Abbie Cornish – Bright Star

BRITISH ACTOR OF THE YEAR
Peter Capaldi – In the Loop
Colin Firth – A Single Man
Tom Hardy – Bronson
Christian MacKay – Me and Orson Welles
Andy Serkis – Sex & Drugs & Rock & Roll
Winner: Colin Firth – A Single Man

BRITISH ACTRESS OF THE YEAR
Emily Blunt – The Young Victoria
Helen Mirren – The Last Station
Carey Mulligan – An Education
Katie Jarvis – Fish Tank
Kristin Scott Thomas – Nowhere Boy
Winner: Carey Mulligan – An Education

BRITISH ACTOR IN A SUPPORTING ROLE
Michael Fassbender – Fish Tank
John Hurt – 44 Inch Chest
Jason Isaacs – Good
Alfred Molina – An Education
Timothy Spall – The Damned United
Winner: Alfred Molina – An Education

BRITISH ACTRESS IN A SUPPORTING ROLE
Emily Blunt – Sunshine Cleaning
Anne-Marie Duff – Nowhere Boy
Rosamund Pike – An Education
Kierston Wareing – Fish Tank
Olivia Williams – An Education
Winner: Emily Blunt – Sunshine Cleaning

SCREENWRITER OF THE YEAR
Jesse Armstrong, Simon Blackwell, Armando Iannucci & Tony Roche – In the Loop
Thomas Bidegain & Jacques Audiard – A Prophet
Joel & Ethan Coen – A Serious Man
Michael Haneke – The White Ribbon
Nick Hornby – An Education
Winner: Michael Haneke – The White Ribbon

THE NSPCC AWARD: YOUNG BRITISH PERFORMER OF THE YEAR
Katie Jarvis – Fish Tank
Aaron Johnson – Nowhere Boy and Dummy
George MacKay – The Boys Are Back
Bill Milner – Is Anybody There? and Sex & Drugs & Rock & Roll
Saoirse Ronan – The Lovely Bones
Winner: Katie Jarvis – Fish Tank

BREAKTHROUGH BRITISH FILM-MAKER
Daniel Barber – Harry Brown
Armando Ianucci – In the Loop
Duncan Jones – Moon
Peter Strickland – Katalin Varga
Sam Taylor-Wood – Nowhere Boy
Winner: Armando Ianucci – In the Loop

Friday, December 18, 2009

[TGDA]: Phim Hoạt hình Hollywood: Những thành tựu đáng kể qua hơn 80 năm


(TGĐA) - Không còn là thể loai phim chỉ dành riêng cho khán giả nhí, ngày nay những người xem lớn tuổi hơn cũng bị thu hút bởi những bộ phim hoạt hình do Hollywood sản xuất, với nội dung và cách kể hiện đại, hiệu quả. Quá trình hình thành và phát triển của phim Hoạt hình Hollywood trong vòng 80 năm qua đã cho ra đời những tác phẩm đáng nhớ mà nhờ đó, nhiều hãng phim hoạt hình lớn được hình thành và phát triển.

Những hãng phim tiên phong và cột mốc đáng nhớ

Năm 1927, tận dụng sự biến đổi của việc đem âm thanh vào phim, hãng Walt Disney mạo hiểm làm Steamboat Willie - bộ phim hoạt hình đầu tiên có âm thanh đồng bộ, thu được số tiền vé kỷ lục và lôi kéo hàng triệu người đến rạp, mang đến biểu tượng chuột Mickey thành công vang dội. Technicolour - kỹ thuật phối màu ra đời, bộ phim hoạt hình đa màu đầu tiên trên thế giới là Flowers and Trees (1932). Đối thủ đáng gờm của Disney trong thời kỳ phim câm là Pat Sullivan, nhưng hãng bị phá sản khi Felix The Cat ra rạp và lỗ nặng. Ngoài ra còn có Fleischer (chuyên sản xuất hoạt hình cho Paramount) với các phim Betty Boop và series Popeye. Năm 1930, hai họa sĩ giỏi của Walt Disney là Hugh Harman và Rudolf Ising chuyển sang làm việc cho Leon Schlesinger (sản xuất phim hoạt hìnhWarner Bros.) nhưng họ không thành công . Năm1935, Schlesinger thuê một đạo diễn hoạt hình mới là Tex Avery đứa đến người xem những nhân vật như lợn Porky, vịt Daffy, thỏ Bunny…

Năm 1937, phim hoạt hình dài đầu tiên tại Mỹ là Snow White and the Seven Dwarfs (Bạch Tuyết và bảy chú lùn) của Walt Disney. Năm 1959, hãng United Productions of America phát hành 1001 Arabian Nights (Nghìn lẻ một đêm). Trong vòng 25 năm, điện ảnh Mỹ chỉ có 5 phim hoạt hình dài. Disney tiếp tục sản xuất ba phim hoạt hình dài nữa là: Pinocchio, Bambi, Fantasia nhưng không thành công lắm. Thời điểm chiến tranh thứ hai nổ ra khiến chính quyền Mỹ yêu cầu tất cả các xưởng phim sản xuất những bộ phim mang nội dung tuyên truyền, trong đó Walt Disney có Victory Through Air Power­. Cuộc đình công của của nhân viên hãng Walt Disney sau đó đã làm xấu đi mối quan hệ làm ăn, nhiều thành viên của xưởng ra đi tìm bến đậu mới.

Friz Freleng và Bob Clampett của hãng Warner Bros. cũng tạo nên dấu ấn nhờ sự sáng tạo của họ qua các phim ngắn như Porky in Wackyland, The Big Snooze... Tài tử huyền thoại Mel Blanc lồng tiếng cho nhiều nhân vật hoạt họa của Warner Bros. khởi đầu cho sự tham gia của nhiều diễn viên nổi tiếng sau này.
Phim hoạt hình của MGM cũng tạo được một số dấu ấn nhỏ như: hình ảnh rất sống động, cốt truyện đơn giản. Sau đó, hang này tạo dựng danh tiếng qua series nhiều tập Tom And Jerry (từ năm 1940 và kết thúc năm 2008) của William Hanna và Joseph Barbera. Hãng Warner Bros. đang có kế hoạch chuyển thể Tom And Jerry lên màn ảnh rộng. Series phim Red Hot Riding Hood của Tex Avery là phim hoạt hình đầu tiên dành cho người lớn với một số hình ảnh tươi mát. Riêng hãng Paramount thì khá lận đận trong việc nhân sự khi thành lập xưởng phim hoạt hình Famous Studio, dù vẫn làm ra những phim giải trí đươc yêu thích. Một thể loại phim khác phim hoạt hình tĩnh vật ra đời với King Kong (1933) của Willis O’Brien. Ngay sau đó, George Pál cho ra dạng phim mới là live-action với những hiệu ứng đặc biệt, qua các phim: The Seventh Voyage of Sinbad, Anchors Aweigh – tài tử Gene Kelly khiêu vũ với nhân vật hoạt hình Jerry Mouse. Năm 2007, Walt Disney lặp lại dạng phim này với Enchanted trong đó các nhân vật hoạt hình biến thành người thật, do Amy Adams đóng vai công chúa. Hãng Colombia Pictures cũng vào cuộc với một số phim hoạt hình như Final Fantasy (2000), Monster House (2006) …nhưng không tạo được tiếng vang lớn.

Vào đầu thập niên 80 xuất hiện một xưởng vẽ có tên Pixar, khởi nguồn cho hãng Pixar do George Lucas sáng lập năm 1986. Năm 2006, hãng này đã được Walt Disney mua lại. Vừa qua tại LHP Venice, hãng Pixar đã nhận được giải thưởng Thành tựu trọn đời của Ban tổ chức. Từ năm 1995 đến nay, hãng đã cho ra mắt 10 bộ phim 3D là: Toy Story (Câu chuyện đồ chơi, 1995), A Bug’s Life (Cuộc sống loài bọ, 1998) , Monster Inc (Thành phố quái vật, 2001) , Finding Nemo (Đi tìm Nemo, 2003) , The Incredible, Cars (Xe hơi, 2006), Ratatouille (Vua đầu bếp chuột, 2007), Wall-E (2008), Up (2009)… và tất cả đều thành công về thương mại. Tổng doanh thu của những bộ phim này trên toàn thế giới khoảng 6 tỷ USD.

Hiện nay, Walt Disney và Dream Works đang là đối thủ cạnh tranh dữ dội, phim của họ hầu hết đều thành công. Tuy nhiên, khán giả nhận xét các phim của Disney và Dream Works có nhiều điểm tương đồng như Finding Nemo của Walt Disney và Shark Tale của Dream Works ra mắt năm 2004 cùng mang chủ đề đại dương, Shrek và Monster Inc. cùng nói về những kẻ xấu xí vui nhộn…Đây là về vấn đề nhân sự: Katzenberg rời hãng Walt Disney để đầu quân cho Dream Works và nhiều câu chuyện cũ của ông được dựng, trên một nền tư duy không mấy thay đổi.

Từ 2D đến 3D

Một số tác phẩm của thời kì vẽ tay và 2D hầu hết đều đã từng đến với khán giả Việt Nam qua truyền hình, sách và cả những vở kịch, phim cổ tích thiếu nhi…Những tác phẩm này có tính chất thần thoại, ngụ ngôn như Bambi (1942) của Disney dựa theo truyện Cuộc sống trong rừng của tác giả người Áo Felix Salten. Chuyện phim gián tiếp nói đến đời sống gia đình của người Mĩ thông qua câu chuyện chú nai Bambi bị lạc trong rừng phải tìm cách sống sót để gặp lại được cha mẹ. Phim nhận được ba đề cử Oscar cho Nhạc nền, Âm thanh và Bài hát hay nhất cho Love Is a Song. Doanh thu tổng kết của phim cũng đạt 267 triệu USD và phần hai được ra đời năm 2006. One Hundred and One Dalmatians (101 con chó đốm, 1961) bối cảnh London 1960, chú chó đốm Pongo vô tình kết duyên chủ của mình và cô bạn gái Anita. Anita lại kết duyên cô chó đốm Purdy cho Pongo trong một đám cưới hạnh phúc. Tuy nhiên mọi chuyện không êm đẹp khi người bạn của Anita bắt cóc đàn chó và Pongo cùng Purdy phải giải cứu những đứa con của mình. The Little Mermaid (Nàng tiên cá, 1989) có tên trong 10 Phim Hoạt hình hay nhất Hollywood, với hình ảnh nàng tiên cá Ariel, dựa trên truyện cổ nổi tiếng của nhà văn Đan Mạch Andersen. Walt Disney đã chỉnh sửa cái kết của câu chuyện, khiến nó không buồn đẫm nước mắt như trong bản gốc: Nàng tiên cá không tan biến thành bọt nước mà có một đám cưới hạnh phúc bên chàng hoàng tử Eric. Phim có hai đề cử Oscar Nhạc nền xuất sắc nhất.

Snow White and the Seven Dwarfs (Bạch tuyết và 7 chú lùn, 1937) là câu chuyện về nàng công chúa xinh đẹp gặp phải mụ phù thủy tai ác. Vì muốn chiếm trọn trái tim hoàng tử, mụ giả thành bà lão tốt bụng để lừa quả táo độc. Năm 2008, AFI bình chọn Snow White and the Seven Dwarfs là phim hoạt hình hay nhất mọi thời đại và được tái bản rất nhiều lần. Cinderella (Cô bé lọ lem, 1959) là chuyện cổ tích về một nàng nàng Lọ Lem sống trong cảnh bất hạnh với người dì ghẻ độc ác và hai đứa con riêng. Một ngày kia, nàng gặp được chàng Hoàng tử trong một dạ tiệc, vì phải quay về trước 12 giờ đêm mà nàng vô tình bỏ quên chiếc giày. Hoàng tử vì say đắm nàng đã cho lệnh thử giày và cuối cùng cũng tìm được Lọ Lem.

Sleeping Beauty (Công chúa ngủ trong rừng, 1959) là phim màu được dựng trên màn ảnh rộng đầu tiên, nội dung không nằm ngoài mô-tuýp hoàng tử - công chúa và cái thiện - ác. Nàng công chúa chìm trong giấc ngủ say nghìn thu, chờ chàng hoàng tử. Phim tái bản nhiều lần và doanh thu tổng cộng đến nay là 478 triệu USD. Đã có nhiều tác phẩm điện ảnh thời nay vay mượn một số hình ảnh trong phim làm trích đoạn, dựng lại bằng người thật hoặc vay mượn ý tưởng, cái tên cho tác phẩm của mình, như một cách đánh giá tầm ảnh hưởng của phim Hoạt hình Hollywood. Năm 1993, Tim Burton cho ra mắt phim hoạt hình kinh dị The Nightmare Before Christmas (Ác mộng đêm Giáng sinh) dù nhận được nhiều lời khen nhưng phim chỉ thu về 80 triệu USD. Năm 1998, ca khúc When you Believe do hai danh ca Whitney Houston và Mariah Carey hát trong bộ phim The Prince of Egypt (Hoàng tử Ai cập) đã giành được giải Oscar Bài hát trong phim hay nhất. Phim thu về khoảng 270 triệu USD.

Bộ phim hoạt hình 3D đầu tiên ra mắt khán giả là Toy Story (Câu chuyện đồ chơi, 1995) của hãng Pixar. Liên tiếp nhiều bộ phim sau đó đều gặt hái thắng lợi từ tiền vé đến giải thưởng như: Shrek, Finding Nemo, Corpse Bride, The Incredibles, Over the Hedge…
Các tác phẩm đạt doanh thu trên 300 triệu USD
Beauty and the Beast (Người đẹp và Quái vật, 1991) là một trong số ít phim hoạt hình có đề cử Phim hay nhất của giải Oscar. Đây cũng là phim có nhiều bản nhạc kinh điển như Belle, Something There…và xuất hiện trong nhiều danh sách: hạng 22 Phim có âm nhạc hay nhất, hạng 34 Phim lãng mạn nhất. Bài hát chủ đề Beauty and the Beast đứng thứ 62 trong danh sách Bài hát nhạc phim hay nhất mọi thời đại. Bộ phim này là bản tình ca đẹp của nàng Belle và tên Quái vật. Nhờ vào tâm hồn trong sáng và tình yêu chân thành của Belle mà cô đã cảm hóa được tính ích kỉ, hung hăng và tàn bạo của tên Quái vật và lời nguyền. Phim do Gary Trousdale và Kirk Wise dàn dựng, đoạt giải Oscar Nhạc nền và thu về 377 triệu USD. Aladdin (Aladdin và Cây đèn thần, 1992) là câu chuyện về Aladdin - Thần đèn hài hước và vui nhộn khác hẳn trong truyện Nghìn lẻ một đêm, dưới bàn tay nhào nặn của Disney và giọng lồng tiếng của diễn viên Scott Weinger đã thực sự chinh phục hàng triệu con tim của khán giả nhí. Bài hát A Whole New World trong phim đã đoạt giải Oscar cho Nhạc nền xuất sắc nhất. Doanh thu của phim thông qua việc sản xuất game và một phần lượng DVD phát hành năm 2004 là 504 triệu USD toàn cầu.

Thành công của phim The Lion King (Vua sư tử, 1994) được ghi dấu bằng ca khúc Can You Feel The Love Tonight của danh ca Elton John. Simba – chú sư tử con sống trong sự bảo bọc của cha mẹ, chứng kiến cái chết của cha và sự xui khiến của chú ruột, Simba ẩn mình sống bình lặng cho đến khi cậu gặp lại người bạn thơ ấu và chứng kiến cảnh lầm than của quê hương bì bị bon linh cẩu phá hoại, Simba đối mặt với quá khứ và hiện tại để chiến đấu giành lại ngôi vị Chúa sơn lâm. Lợi nhuận của phim 783 triệu USD và là phim vẽ tay có doanh thu cao nhất. Phim dành 4 đề cử Oscar cho các ca khúc như Circle of Life, Hakuna Matata…

Toy Story (Câu chuyện đồ chơi, 1995) với tổng doanh thu ba phần khoảng 900 triệu USD. Cậu bé Andy và cuộc chiến giữa cao bồi Woody và Buzz - những món đồ chơi của Andy. Toy Story có 3 đề cử Oscar cho Nhạc phim, Nhạc nền, và Kịch bản xuất sắc nhất. Toy Story là 1 trong 2 phim hoạt hình duy nhất có tên trong danh sách 100 phim hay nhất mọi thời đại (phim còn lại là Snow White and the Seven Dwarf). A Bug’s Life (Cuộc sống loài bọ, 1998) nói về thế giới loài bọ như kiến, châu chấu…được nhân cách hoá với nhiều chi tiết gần gũi. Chú kiến Flik vô tình làm mất kho lượng của đàn kiếm buộc phải mạo hiểm đến thành phố tìm những con bọ như nhện, sâu róm, bọ dừa…để giải cứu những người bạn của mình khỏi tên châu chấu Hopper. Phim thu được 363 triệu USD và mang về 1 đề cử Oscar cho Nhạc phim hay nhất.

Shrek (Chàng khổng lồ xanh, 2001) đoạt giải Oscar 2002, do xưởng phim hoạt hình Dream Works sản xuất thu về 484 triệu USD. Shrek là cuộc thử nghiệm trong việc tạo lại những nhân vật mà khán giả đã quá quen thuộc trước đây: Công chúa ngủ trong rừng, Hoàng tử ếch, Cô bé lọ lem, Nàng bạch tuyết v.v…Chuyện phim dựa theo cuốn sách của William Steig về một gã khổng lồ xanh xấu xí nhưng tốt bụng yêu cô công chúa xinh đẹp hay mơ mộng Fiona, vì tình yêu họ bất chấp tất cả. Hai phần tiếp theo của Shrek vào năm 2004 và 2007 đều thành công, phần 4 cũng sẽ được thực hiện vào đầu năm 2010.

Monsters, Inc. (Thành phố quái vật, 2001) là phim có giới hạn khán giả từ 13 tuổi vì một số hình ảnh ghê rợn trong phim. Monsters, Inc có 1 Oscar cho Nhạc nền xuất sắc nhất. Phim đạt doanh thu 525 triệu. Không thể không nhắc đến Finding Nemo (Đi tìm Nemo, 2003) của Pixar và Walt Disney đạt 864 triệu USD và là một trong những DVD bán chạy nhất (40 triệu bản được bán ra năm 2006) tại Anh, Mỹ và Úc. Nemo – chú cá nhỏ bé nở ra từ quả trứng duy nhất còn sót lại. Tính hiếu kì, Nemo muốn khám phá thế giới quanh mình, cậu bị một tàu đánh cá bắt được và đem về Australia nhốt trong một bể cá cảnh. Không đơn thuần là cuộc giải cứu Nemo, bộ phim còn là cái nhìn khác về thế giới thực mà con người đang sống, một bài học dành cho những bạn trẻ. Sự tự do, những kinh nghiệm của từ việc tự lập…Không những thế, Finding Nemo còn đề cao tình cảm cha con, sự dũng cảm.

Hãng Dream Works phát hành Shark Tale (Chuyện cá mập, 2004) cũng thu được 367 triệu có Will Smith, Angelina Jolie và Renée Zellweger lồng tiếng. Một năm sau, họ cho ra đời câu chuyện về loài vật ở sở thú trung tâm tìm cách trở về mảnh đất riêng của chúng, trong Madagascar thu được 532 triệu USD nhưng phim bị chê tơi bời.

The Incredibles (Gia đình siêu nhân, 2004) nói về gia đình siêu anh hùng Parr, doanh thu 632 triệu USD và là tác phẩm thứ 4 của hãng Pixar đoạt giải Oscar Phim hoạt hình hay nhất. Cars (2006) đạt 461 triệu trên toàn thế giới. Đây là sản phẩm thứ 7 của Disney/Pixar và là phim cuối cùng của Pixar trước khi hãng này trực thuộc Disney. Chuyện phim về anh chàng đua xe kiêu ngạo Lightning McQueen phải làm việc công ích vì những tổn thất mà anh gây ra cho một ngôi làng nhỏ trong khi đua xe. Phim nhận được hai đề cử Oscar và đoạt Quả cầu vàng 2007.

Happy feet (Điệu vũ hạnh phúc, 2006) của Warner Bros qui tụ dàn diễn viên Úc thành danh tại Hollywood như Elijah Wood, Hugh Jackman, Nicole Kidman …để lồng tiếng cho phim ca nhạc về đề tài tình yêu của…chim cánh cụt, doanh thu 384 triệu USD. Phim đoạt Oscar và giải Quả cầu vàng cho ca khúc Song of the Heart của Prince, đồng thời có tên trong nhiều Top phim tổng kết năm 2006.

Ratatouille (Vua đầu bếp chuột, 2007) do Pixar sản xuất là câu chuyện về chú chuột Remy sinh ra ở Paris quyết định rời bỏ gia đình để theo đuổi giấc mơ trở thành một ông vua đầu bếp trứ danh. Bộ phim này cũng thu được 621 triệu USD. Cùng năm, phiên bản điện ảnh của series truyền hình cực kì ăn khách thập niên 80 là The Simpsons Movie do 20th Century Fox phát hành có doanh thu 527 triệu USD và một vài đề cử ở hạng mục phim Hoạt hình tại BAFTA, Oscar và Quả cầu vàng nhưng chiến thắng đều thuộc về Ratatouille.
Năm 2008, Wall-E được đánh giá là thành công, thu được 521 triệu tiền vé cho hãng Walt Disney/Pixar, đoạt giải Oscar và các đề cử cho phần nhạc nền, kịch bản gốc... Chuyện phim nói về Wall-E - chú robot bị bỏ sót lại ở hành tinh trái đất, sống cô đơn và siêng năng làm công việc dọn dẹp rác thải. EVE là cô người máy thăm dò dáng đẹp, nhanh nhẹn đã vô tình xuất hiện và làm thay đổi cuộc đời Wall-E. Kungfu Panda (2008) của Dream Works, ra mắt hoành tráng tại LHP Cannes sau đó cũng đạt được 631 triệu USD. Hình ảnh chú gấu trúc mập mạp, ham an và láu lỉnh mê môn võ thuật làm say mê nhiều khán giả nhí. Phần hai của phim sẽ công chiếu vào năm sau.

Sao Hollywood cũng bị “mua chuộc” ?

Đó là cách nói vui cho những nhân vật hoạt hình mà rất nhiều ngôi sao của Hollywood đã lồng tiếng. Nhiều lí do để những diễn viên này chịu khó tham gia phim hoạt hình bên cạnh những tác phẩm điện ảnh. Bên cạnh lợi nhuận, các ngôi sao đã có gia đình và đặc biệt là có con thường sẵn sàng tham gia lồng tiếng để con của họ nghe giọng bố/mẹ trên TV. Trường hợp này phải kể đến Julia Roberts trong Charlotte’s Web (Mạng của Charlotte, 2007).

Catherine Zeta-Jones, Brad Pitt “cặp đôi” trong phim phiêu lưu Sinbad: Legend of the Seven Seas (2003) nhưng thất bại về doanh thu. Ngôi sao Kate Winslet lồng tiếng cho Flushed Away. Meryl Streep, Julia Roberts, Nicolas Cage lồng tiếng cho The Ant Bully. Tom Hanks lồng tiếng cho ba phần phim Toy Story của Pixar. Cameron Diaz lồng tiếng cho vai công chúa Fiona trong Shrek .

Danh sách diễn viên ngôi sao lồng tiếng nối dài với Owen Wilson, Paul Newman trong Cars (2006), Johnny Deep, Helena Bonham Carter trong Corpse Bride (2005), Holly Hunter, trong The Incredibles. Michelle Pfeiffer, Ralph Fiennes, Sandra Bullock, Helen Mirren thì hợp tác cùng nhau trong phim hoạt hình tạo đươc tiếng vang từ giới chuyên môn là The Prince of Egypt năm 1998. Angelina Jolie, Lucy Liu trong Kungfu Panda (2008). Người đẹp Tây Ban Nha Penelopé Cruz lồng tiếng cho G-force năm 2009 nhưng phim thất bại thảm hại. Nhìn chung, việc các sao tầm cỡ tham gia lồng tiếng càng làm tăng thêm tầm ảnh hưởng và tính bao qeát của phim hoạt hình.

Những cú hích mới nhất

Ra mắt tại LHP Cannes, Up của hãng Pixar được đánh già rất cao trong năm 2009 và là ứng viên nặng kí của giải Oscar 2010. Chuyện phim về một ông lão đã 78 tuổi, sống một mình trong căn nhà cũ kĩ giữa lòng thành phố hiện đại. Nhiều lần bị người dân ép vào viện dưỡng lão, Carl Fredricksen – tên ông, vẫn lì lợm bám trụ trong tổ ấm của mình. Một ngày, Carl nhét hàng nghìn quả bóng bay qua lò sưởi và cùng căn nhà, bay lên khỏi thành phố, hướng đến những chân trời xa lạ. Tổng doanh thu của Up tính đến tháng 11 là 645 triệu USD. Ice Age: Dawn of the Dinosaurs (Kỷ nguyên băng hà 3) do Blue Sky Studios và 20th Century Fox hợp tác thu về lợi nhuận khổng lồ 878 triệu USD và một trong số ít phim đạt doanh thu cao nhất 2009. Mary and Max chiếu tại LHP Berlin 59 có cái nhìn già dặn, do Toni Collette, Philip Seymour Hoffman và Eric Bana lồng tiếng. Phục vụ cho đông đảo tầng lớp khán giả đủ mọi lứa tuổi đang là hướng đi của dòng phim này. Do đó, phim Hoạt hình Hollywood sẽ vẫn tiếp tục là món ăn tinh thần bổ ích và thực tế cho mọi gia đình. Mr Ra^u (TGDA)



[Review]: Thirst (Park Chan-wook, 2009)


Park Chan-wook trở lại với những gì thuộc về sở trường của ông: máu, tình dục, bạo lực, suy đồi đạo đức. Sau thất bại đáng ghi nhận của năm 2006, thì Thirst dường như là một sự giận dữ vượt mọi ranh giới. Nó được đánh giá như mẩu kinh dị nhất, khủng khiếp nhất, điên cuồng nhất trong sự nghiệp làm phim của Park. Qua Thirst, nhà làm phim người Hàn quốc này muốn thách thức cả Vatican, muốn bó hẹp phạm vi khán giả của chính anh cho dù người ta vẫn tìm xem phim của Park. Với Thirst, Park Chan-wook đã sử dụng hầu như tất cả những kĩ thuật tốt nhất cho bộ phim của chính anh, với một kịch bản dàn trải và kém thân thiện. Tên tiếng Hàn của phim là Bak Jwi - Con dơi, trích cảm hứng từ tiểu thuyết Thérèsa Raquin của Émile Zola.

[Bài viết tiết lộ toàn bộ nội dung phim. Trong bài có những từ ngữ mô tả chi tiết bạo lực, tình dục]

Sang-huyn - cha xứ, một vị linh mục đang chờ xức dầu và cầu nguyện cho một bệnh nhân trong bệnh xá, van xin cha cố của mình để được đi Nam Phi tìm phương thuốc chữa trị các bệnh nan y, anh ta tình nguyện viêm nhiễm loại virus có tên EV (Emmanuel Virus) và cầu xin Chúa để tìm ra cách cứu giải. Chẳng may, Sang-huyn lìa đời với những khối u nhỏ như mụn nước, ướm máu khắp người. Ngay lúc các bác sĩ tưởng rằng anh đã chết thì nhịp tim của Sang-huyn đập trở lại, và vì vết thương trên khắp cơ thể, anh phải mặc áo trùng tu và quấn khăn trắng khắp khuôn mặt để trở về nhà. Trước tin anh là người duy nhất sống sót sau khi nhiễm EV, ngay lúc Sang-huyn ra xe thì đã có hàng chục người chờ sẵn, van xin anh. Hình ảnh khuôn mặt bó khăn trắng che dung nhan có thể liên tưởng tới phim Nhật The Man without a Face.

Trong lúc Sang-huyn giảng đạo và trò chuyện với trẻ em, một phụ nữ - mẹ của người bạn cũ của Sang-huyn - Lady Ra, đã réo gọi và van xin anh đến cứu giúp đứa con trai bệnh tật của mình là Kang-woo. Đến bệnh viện, Sang-huyn gặp vợ bạn mình là Tae-ju, một cô gái trẻ nhưng ăn mặc dơ dáy, cẩu thả, đầu tóc bù xù, mặt mày thất thần như một kẻ điên, chẳng màng đến ai, cứ lo việc của mình.

Chẳng hiểu sao sau đó ít lâu Kang-woo khỏi bệnh, thế là Lady Ra mời Sang-huyn đến nhà dùng cơm tối. Tại đây, anh tiếp xúc lần nữa với Tae-ju và nhận ra sau bộ áo nhung rũ rượi, tóc rối và mồ hôi của cô gái này là tiếng gọi từ địa ngục: dục vọng.
Có thể nói Park cố tình chạm đến điều cấm kị: cha xứ vô luân. Và trong nhiều tác phẩm của anh, các đề tài giật gân như loạn luân chị em, cha con trong Oldboy hay xâm hại tình dục trẻ em (Sympathy for Lady)...đã tạo dựng tên tuổi và cái nhìn riêng của Park về thực tế cuộc sống hôm nay. Chính những chủ đề rất khó chấp nhận ở số đông và ở các nước phương Đông vô tình đưa Park vào hai phía khán giả: yêu hoặc ghét. Khán giả phương Tây có vẻ thích phim của ông hơn cả, nhất là các nhân tố bạo lực rùng rợn và dữ dội.

Xét về mức độ máu me thì Thirst là đỉnh cao, vì chủ đề của nó xoay quanh ma-cà-rồng. Trong một cảnh khi Tae-ju bị shock nặng và thiếu máu, cô đã nôn oẹ ra sàn nhà trắng tinh một vũng máu rất dài (?). Một cảnh khác, Tae-ju lừa người đi đường, giết và hút máu anh ta bằng cái kéo cắt vải nhỏ, chọc thủng qua cổ, máu tuôn xối xả...Điểm quan trọng trong Thirst, máu đỏ tươi và đậm đặc được dựng tương phản với nền trắng của sàn nhà, ánh đèn hoặc màu xanh blue velvet của địa ngục. Những cảnh bạo lực khác bao gồm đoạn Sang-hyun kéo chân Tae-ju khiến mặt cô đập mạnh vào tường và rớt xuống đất. Những cảnh bóp cổ, cắn cổ và hút máu...

Xét về mức độ tình dục thì Thirst cũng là đỉnh cao. Có vẻ như sau thất bại của , Park mạnh tay và nôn nóng muốn lấy lại danh vị ? Tình dục trong Thirst nó kích thích từ cả cái nhìn, điệu bộ vì quan hệ giữa cha xứ - gái có chồng là điều hoàn toàn trái đạo đức. Mà những mối quan hệ như thế, tác giả phải khéo léo xây dựng những khoảng khắc "không thể kiềm chế". Cái nhìn của Sang-hyun trên thân thể đẫm ướt của Tae-ju, trông thấy quần lót đen của cô khi cô té ngã trên sàn. Cảnh khác, Tae-ju mặc mỗi áo ngủ trắng tinh chạy vun vút trên phố bằng đôi chân trần. Sang-hyun ôm nhẹ cô, nhấc người cô lên, bỏ đôi giày của mình lại và đặt đôi chân Tae-ju vào đôi giày của anh. Đây là một hình ảnh ẩn dụ mà phần sau tôi sẽ đề cập trực tiếp.

Sau hành động này, Tae-ju chính thức thèm khát Sang-hyun không ngần ngại. Một đêm, cô lôi kéo anh trở lại căn phòng của cửa hàng vải trước nhà, để làm tình.
Sang-hyun, bản chất là đàn ông, với cương vị linh mục. Anh thèm khát như cậu con trai mới lớn, vừa sợ ăn trái cấm sẽ bị hình phạt muôn đời. Tất nhiên, Sang-hyun đã bị chất virus biến dạng tâm lí của anh: nhục thể hơn, ham muốn thể xác hơn. Tae-ju chủ động ngồi trên người anh đang co ro chống cự một cách yếu kém. Cô cởi bỏ áo ngoài để lộ bầu ngực và nói rằng "Tôi không phải cô gái hay mắc cỡ". Tae-ju tiếp tục lần mò đến đũng quần Sang-hyun, cởi nó ra. Thế nhưng quan hệ này không kéo dài vì Lady Ra réo gọi Tae-ju từ bàn ăn. Sang-hyun vội vã mặc quần áo ra về.

Hôm sau, trong một buổi chơi bài, Tae-ju và Sang-hun đã lợi dụng buổi hẹn chơi bài vào Chủ nhật để nói lái đến cuộc hẹn làm tình đầu tiên giữa họ. Tae-ju xin mẹ Chủ nhật vào viện xá làm từ thiện, nhưng cái chính là hoan lạc với Sang-hyun. Buồn cười thay sau khi họ ân ái như vũ bão bên cạnh...một cái xác vô hồn giường kế bên, Sang-hyun lại cố ý để cho Tae-ju biết anh hút máu người. Cô gái trẻ, vừa sợ hãi, tìm cách trốn chạy.


Diễn xuất của Song Kang-ho thiếu thuyết phục, nhất là đoạn anh phân trần với Tae-ju về việc mình là ma cà rồng nhưng yêu cô, hay đoạn đám người phát giác ra Sang-huyn có cưỡng hiếp một phụ nữ trẻ... Có thể đánh giá cách xây dựng Sang-hyun chưa chuẩn, đạo diễn chưa thấu đáo và diễn viên còn mặc cảm. Mặc cảm ở đây không phải vì anh ta phải khoả thân trực diện, mà có lẽ anh ta mặc cảm vì tôn giáo của mình và đã không thông suốt được tâm lý nhân vật Sang-huyn, bởi đó là một vai rất khó. Càng về sau, Song diễn càng đuối, không rõ được đặc tính ác/ thiện của nhân vật, càng không tạo được sự đồng điệu. Trong khi Tae-ju của Kim Ok-bin phần nào nhẹ nhàng hơn. Một chút điên, một chút hoang dại, lạnh lùng đã có thể ra chất Tae-ju, phụ nữ bất chấp tất cả.

Hai diễn viên còn lại của phim là Kim Hae-sook vai Lady Ra và Shin Ha-kyun vai Kang-woo diễn như thường lệ, bởi họ đã từng cộng tác với Park trong những vai quái chiêu: tù nhân đồng tính ăn thịt chồng và bồ trong Sympathy for Lady, kẻ câm điếc trả thù cho chị trong Sympathy for Mr. Có thể nói Park xây dựng hai nhân vật phụ này rất quái đản, mà nếu xem lần đầu thì có thể thấy thú vị, nếu nhiều quá sẽ nhàm chán, phản cảm vô cùng: Lay Ra trắng bệch môi đỏ chót, bất động, béo ú. Kang-woo như một thằng hề với nụ cười toe toét đến ám ảnh, thân hình gầy gò, tổng thể bệnh hoạn. Tất cả đã làm rất tốt vai trò hóa trang, phục trang nhân vật. Còn độ chín diễn xuất thì chưa ai đạt được, nếu rộng rãi thì đó là Kim Ok-bin.


Cảnh phim hay nhất, mang đúng tinh thần ma-cà-rồng nhất là cảnh Sang-huyn cùng Tae-ju bay qua những toà nhà lúc họ vừa mới...yêu và khi họ rượt đuổi nhau vì Sang-huyn không muốn Tae-ju trở thành một kẻ hút máu người. Về đôi giày của Tae-ju, nó y hệt chiếc giày mà Sang-hyun đã từng tặng cô. Điều này ám chỉ đến việc Tae-ju trở thành ma-cà-rồng và biến thành một kẻ lưỡng tính, nói đúng hơn là phi giới tính. Đôi giày cũng xuất hiện trong cảnh kết phim. Nó là thứ còn lại duy nhất giúp cả hai không bị phát hiện ra là những con ma ban ngày làm việc thiện, ban đêm giết người. [bổ sung của Vũ ánh dương: Đôi giày tượng trưng cho một sự khởi đầu - kết thúc chặng đường, ta tạm gọi là đường đời của Tae-ju]

Trong phim, có nhiều cảnh quay đẹp, hình ảnh đẹp, dàn cảnh khá bắt mắt: xe hơi tông vào Tae-ju, khuôn mặt cô sáng bừng cười man dại, hay đoạn Tae-ju định giết một người bằng cách bóp cổ nhưgn Sang-huyn lại bóp cổ cô ra hiệu cô dừng lại...
Khi Sang-hyun và Tae-ju bày mưu giết Kang-woo thì bi kich đã dẫn họ đến chỗ tận cùng. So với cảnh cuối của Oldboy: tuyết phủ đầy những ngọn núi, hai nhân vật trong Thirst đứng trước ánh bình minh và biển, đằng sau họ là Lady Ra và ánh mắt bà ta. Ánh mắt căm hờn của bà đã chứng kiến mặt trời thui trụi thân xác Sang-hyun và cô con dâu trái đạo. Xét về hình ảnh, từ cảnh sáng sớm mờ sương đến sắc rực cam của bầu trời đều truyền tải không khí và không gian đẹp.

Nhưng kết phim này không có gì đặc biệt, nó được cho là hợp lý: ác gặp dữ. Ở Thirst, chả có ai hiền cả, nên không có ai gặp điềm lành.
Xem xong Thirst, thiết nghĩ những nhà làm phim như Park đúng là tài giỏi. Cái tài giỏi của anh là có một đội ngũ hùng mạnh về kĩ thuật. Kể từ Oldboy thì phim nào của Park cũng chỉn chu phần nhìn: biên tập, quay phim, ánh sáng, màu sắc đến trang điểm, tạo hình, mỹ thuật...và phần nghe: âm nhạc tốt, âm thanh sống động. Có thể nói tạo hình nghệ thuật và mỹ thuật của phim tốt. Nhưng kịch bản, nó là một kịch bản nhiều biến chuyển, tưởng chừng điều đó sẽ hấp dẫn lôi cuốn nhưng ngược lại, nó làm người ta ngộp thở.

Và sẽ dần bội thực bởi cá tính của Park không đằm lại mà ngày một phát triển thái quá, đến mức trở nên lố bịch và khó chấp nhận. Mượn Tôn giáo Thiên chúa hòng gây tranh cãi và giành giải BGK nhưng Thirst hoàn toàn không hiểu được cốt lõi vấn đề để đi đến đích.

Trao giải cho Thirst, là trao cho cái gì đó rất kích động nghe nhìn và cảm nhận nhưng để lắng đọng, để yêu thích hay ngưỡng mộ thì không thể. Một bộ phim, sau hết là cảm xúc, những thứ râu ria kia chỉ làm nền cho cảm xúc. Thế nhưng một phim mà cố tình tạo cảm xúc như Thirst e rất khó tồn tại lâu trong lòng người xem.


Chấm cho phim 6.5/ 10 tôi nghĩ đã là một ân sủng lớn. Park đã có những cộng sự tốt, một chủ đề khởi đầu rất đáng bàn cãi song sau khi xem phim, ta chợt thấy nó làm màu nhiều quá, khoa trương nhiều quá.


Grade: B-